05:13 EDT Thứ tư, 24/07/2019

Trang nhất » Chuyên mục » Suy niệm Lời Chúa

Lời Chúa cntn 14c _ các bài suy niệm

Thứ năm - 04/07/2019 10:54
Các bài suy niệm Lời Chúa
Chúa Nhật 14 Thường Niên – C


Lời Chúa: Is 66, 10-14c; Gl 6, 14-18; Lc 10, 1-12. 17-20
MỤC LỤC
  1. 1. Thợ gặt và máy gặt – ViKiNi
  2. 2. Truyền giáo.
  3. 3. Chúa sai tôi đi loan tin bình an và hanh phúc.
  4. 4. Bình an của Chúa.
  5. 5. Vào nhà, vào thành phố.
  6. 6. Bình an.
  7. 7. Công việc.
  8. 8. Anh em hãy ra đi.
  9. 9. Mừng vì được ghi danh Nước Trời – Lm. Anmai.
  10. 10. Ra đi loan báo Tin Mừng – An Phong.
  11. 11. Đoàn kết
  12. 12. Bình an – Lm. GB. Trần Văn Hào.
  13. 13. Vô nghĩa – Lm Vũ Đình Tường.
  14. 14. Bình an đích thực.
  15. 15. Chúa sai tôi đi – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền.
  16. 16. Chứng nhân Nước Trời
  17. 17. Bình an chân thật – Lm. Minh Vận, CRM…
  18. 18. Truyền giáo.
  19. 19. Truyền giáo – Lm Giuse Nguyễn An Khang.
  20. 20. Chúa sai tôi đi – ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
  21. 21. Mênh mông lúa đồng – Thiên Phúc.
  22. 22. Nghịch lý – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền.
  23. 23. Phúc âm hoá bản thân mình trước hết.
  24. 24. Phúc âm hoá bản thân mình trước hết
  25. 25. Thiên Chúa cần đến những con người.
  26. 26. Ai là công nhân mùa gặt của Chúa?
  27. 27. Bảy mươi hai môn đệ được sai đi
  28. 28. Hãy ra đi rao giảng Tin Mừng.
  29. 29. Hãy đi giảng dạy.
  30. 30. Sai 72 môn đệ đi rao giảng – McCarthy.
  31. 31. Suy niệm của R. Gutzwiller.
  32. 32. Bình an đích thực.
  33. 33. Người rao giảng.
  34. 34. Chúa Nhật 14 Thường Niên.
  35. 35. Người môn đệ.
  36. 36. Truyền giáo bằng đời sống.
  37. 37. Chọn lựa các môn đệ – Veritas.
  38. 38. Tử tế.
  39. 39. Sứ giả.
  40. 40. Tất cả những người cô đơn.
  41. 41. Tinh thần nghèo khó.
  42. 42. Sứ mệnh hòa bình – An Hạ.
  43. 43. Những người được sai đi
  44. 44. Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm.
  45. 45. Suy niệm của Lm Bùi Quang Tuấn.
  46. 46. Chiên con giữa bầy sói – Đỗ Lực.
  47. 47. Suy niệm của JKN.
  48. 48. Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt
  49. 49. Suy niệm của nhóm Gp Vĩnh Long.
  50. 50. Thi hành sứ mạng của Đức Kitô.
  51. 51. Vài nguyên tắc truyền giáo của Chúa Giêsu.
  52. 52. Sứ giả hoà bình.
  53. 53. Khí cụ bình an – Lm Vũ Minh Nghiễm.
  54. 54. Tại trung tâm bão biển – Lm. Mark Link.
  55. 55. Sai đi loan báo Tin Mừng.
  56. 56. Dấn thân – Trầm Thiên Thu.
  57. 57. Hành trang tông đồ – Lm Giuse Nguyễn Hữu An.
  58. 58. Sứ mạng của người môn đệ – Jos. Vinc. Ngọc Biển.
  59. 59. Sai đi
  60. 60. Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt lại ít.
  61. 61. Chú giải của Noel Quesson.
  62. 62. Chú giải của William Barclay.
Chúa sai tôi đi  Lm Giuse Đinh Tất Quý (Video Clip)
Anh em hãy ra đi  Lm Giuse Đinh Tất Quý
Luôn sẵn sàng hợp tác...  Lm. Đaminh Lâm Quang Khánh
Thánh vịnh & Đáp ca   Nhóm Thánh Vịnh Nauy
Chúa Giêsu sai 72 môn đệ...  Catholic.org.tw
Loan tin bình an và hạnh phúc  Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái
Ra đi rao giảng tin mừng  Lm Giuse Đinh lập Liễm
Môn đệ chân chính  Lm Bùi Quang Tuấn
Hãnh diện vì thập giá  Lm. Phạm thanh Liêm
Loan báo tin mừng cho...Lm Đan Vinh
Sứ mạng của người môn đệ  Lm Jos.Vinc. Ngọc Biển
Tiếp nhận Ngài  R. Gutzwiller
Thi hành ý Ngài  William Barclay
Sai 72 môn đệ đi rao giảng  McCarthy
Ai là công nhân mùa gặt của Chúa  Charles E. Miller
Niềm vui đích thực  Lm, Gioan M. Nguyễn Thiên Khải, CMC
Sứ giả bình an  M. VĨNH HẰNG (giảng cho thiếu nhi)
Vào nhà, vào thành phố  Sưu tầm
 
 

1. Thợ gặt và máy gặt – ViKiNi
 
(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)
 
Hình ảnh lúa chín đầy đồng và thợ gặt rất thân thương với hơn 80% người dân Việt Nam từ ngàn xưa. Đức Giêsu đã phác họa một phong cảnh tương phản giữa cánh đồng lúa chín vàng mênh mông bát ngát với mấy người thợ gặt ít ỏi.
 
Mùa gặt quá thiếu thợ, còn gì xót xa đau khổ bằng ! Đức Giêsu đã đau xót biết chừng nào trước cảnh đồng lúa chín rũ rượi, gục ngã, cũng như trước đoàn chiên bơ vơ không có người chăn chân chính. Người đã thúc giục chúng ta hãy khẩn nài chủ ruộng là Thiên Chúa sai thợ đến gặt lúa.
 
Lúa chín đầy đồng của Đức Giêsu là gì?
 
Đó chính là nhân loại đang sống trong bầu khí ô nhiễm tội lỗi, trong tình trạng ngột ngạt của tử thần, dưới ách quỷ dữ như chó sói săn đuổi cấu xé đàn chiên. Thế giới có hàng tỉ người là hàng tỉ cây lúa chín đang bị muôn thú cướp phá, giày xéo.
 
Riêng tại Á Châu, trong số ba tỉ năm người mới chỉ có một trăm mười triệu tín hữu Công Giáo, tính theo tỷ lệ là 2,6%. Như vậy, cứ một trăm cánh đồng lúa chín, mới có 2,6 cánh đồng có thợ gặt, còn 97,4 cánh đồng bị bỏ hoang. Chưa kể toàn bộ cánh đồng đã bị bỏ hoang mãi cho đến thế kỷ thứ XVI mới có thợ gặt. Đặc biệt, thánh Phanxicô Xaviê không chỉ là thợ gặt mà là máy gặt hiện đại. Nếu Á Châu đã được phúc có nhiều máy gặt hiện đại như thánh Phanxicô, Mẹ Têrêxa Calcutta, chắc chắn, Á Châu bây giờ đã trở thành những đồng lúa thơm lành đầy thợ gặt của Thiên Chúa.
 
Lạy Chúa xin sai nhiều thợ gặt đến, nhất là những máy gặt hiện đại để Thánh Thần Chúa đến canh tân bộ mặt Á Châu.
 
Từ ngày 19/04 đến 15/05/1998, Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu lần đầu tiên họp tại Rôma, có hơn 158 vị đại diện hàng Giám Mục Á Châu và một số Giám Mục đại diện các châu lục khác, cùng với một số chuyên viên, tất cả hơn hai trăm ba mươi vị dưới quyền hướng dẫn của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Tất cả sáu trăm Giám Mục, mười bốn Hồng y và hơn một trăm mười triệu tín hữu Công Giáo đang cầu nguyện hướng lòng mong chờ xin “Chúa Giêsu Kitô, Đấng cứu độ sai đến Á Châu những thợ gặt và nhất là những máy gặt hiện đại lãnh sứ mạng yêu thương phục vụ của Ngài đến tại Á Châu nghèo đói tinh thần và vật chất, được sống và sống dồi dào” (Ga. 10,10).
 
Điều cần thiết chúng ta phải sống thế nào trở nên thợ gặt, trở nên máy gặt?
 
Bài đọc I chỉ cho ta thấy Isaia đã làm gì để trở nên máy gặt cho dân Do Thái. Ông thấy dân được thoát cảnh lưu đầy khỏi Babilon về. Nhưng họ rất buồn nản, tuyệt vọng trước quê hương điêu tàn và đền thánh bị phá hủy. Isaia đã an ủi, khích lệ và loan báo Tin Mừng cho họ biết: “Thiên Chúa không bỏ rơi họ, Ngài sẽ tỏ quyền lực giúp họ”. Đây là lời Chúa phán: “Này Ta đổ hoà bình xuống Thành Đô, khác nào sông cả, khiến của cải của dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ. Các con sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm vào lòng, nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền âu yếm con thơ, Ta sẽ vỗ về các con như vậy”. Thấy thế, lòng họ đầy hoan lạc, thân hình nên tươi tốt như đồng xanh”
 
Bài đọc II: Thánh Phaolô đã trở nên máy gặt cho chư dân, nhờ sống mầu nhiệm thập giá, Ngài đã làm cho họ trở nên tạo vật mới, sống bình an trong lòng thương xót của Chúa. Ngài nguyện xin Đức Giêsu ban cho lòng trí họ được tràn đầy ân sủng.
 
Như vậy, muốn trở nên thợ gặt, máy gặt của Chúa, chúng ta phải sống mầu nhiệm thập giá, cầu nguyện và loan báo Tin Mừng của Chúa, an ủi những ai sầu khổ, khích lệ kẻ thất vọng, âu yếm nâng niu những ai yếu đuối, để lòng thương xót, ân sủng và bình an của Chúa làm cho họ nên tạo vật mới, nên công dân trong Thành Đô của Chúa.
 
Đặc biệt bài Tin Mừng cho thấy một sáng kiến của Đức Giêsu đã dùng nhóm nhỏ đi loan báo Tin Mừng. Chúa chọn bảy mươi hai người, rồi chia ra từng nhóm hai người để sai đi các nơi. Các nhóm này không phải là một tổ chức cho bằng một sự sống… Họ chia sẻ sự sống của Chúa, của những người chung quanh và của nội bộ nhóm.
 
Trước hết, là cuộc sống của họ là chia sẻ những băn khoăn thao thức của Chúa, Đấng sai họ đi, tâm tư thao thức được diễn tả trong lời sai đi: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt ít”… Chúa cũng cho họ thấy: “Ta sai các con đi như chiên ở giữa sói rừng…”. Sói mạnh hơn chiên… Vì thế các ông sẽ tuyệt đối tựa nương vào sức mạnh siêu nhiên của Đấng sai mình… Thứ đến, họ chia sẻ cuộc sống thực tế của những người trong nhà như chữa bệnh tật cho họ, cùng ăn uống với họ. và nâng tâm hồn họ lên, bằng cách nói cho họ biết Nước Thiên Chúa ở gần bên họ…
 
Sau cùng, nhìn vào sinh hoạt nội bộ của những người trong nhóm, ta thấy một bầu khí thanh thoát, vui tươi … Kể lại cho nhau nghe những gì xảy ra cho họ. Nội dung họp nhóm của họ không phải là tranh luận về quan điểm này nọ, đúng sai, mà là chia sẻ kinh nghiệm của nhau trong tâm tình khiêm tốn, kính trọng tin tưởng nhau, và sẵn sàng lắng nghe lời Chúa dậy bảo. (Trích bài giảng CN. XIV năm C của Đức Cha Bùi Tuần. 1989)
 
Lạy Chúa, mọi người Kitô hữu đều được Chúa sai đi gặt lúa. Xin cho chúng con biết đem bình an và lời Chúa đến mọi gia đình để lời Chúa trở nên sự sống đời đời cho họ.
 
 
 

2. Truyền giáo
 
Trong một bài giảng dành cho giới trẻ về bổn phận phải truyền giáo, vị linh mục đã kết luận như sau: Vậy chúng ta sẽ làm gì để góp phần nhỏ bé vào công cuộc rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội? Có một bạn trẻ sau đó đã gặp và nói với vị linh mục: Thưa cha, con không có tiền để giúp vào việc truyền giáo, nhưng con xin hiến dâng đời con cho công cuộc trọng đại nói trên. Con muốn trở nên người được sai đi.
 
Từ mẩu chuyện trên, chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng hôm nay. Đã từ lâu, chúng ta thường cho rằng chỉ các linh mục vài tu sĩ mới có bổn phận phải truyền giáo. Thế nhưng, qua bài Phúc Âm vừa nghe, ngoài 12 tông đồ, Chúa Giêsu còn sai cả 72 môn đệ truyền giáo, có nghĩa là mọi Kitô hữu đều được mời gọi làm thừa sai của Chúa, tham dự vào công cuộc trọng đại này. Vậy chúng ta phải làm gì để việc truyền giáo của chúng ta đem lại những kết quả tốt đẹp?
 
Việc thứ nhất đó là hãy sống tinh thần cầu nguyện, kết hiệp mật thiết với Chúa, bởi vì chúng ta chỉ có thể cho đi cái chúng ta đã có. Đây là điểm nổi bật trong cuộc đời của Chúa Giêsu. Thực vậy, dù bận rộn đến đâu chăng nữa, Người vẫn luôn dành thời giớ để cậu nguyện, tâm sự với Chúa Chúa. Người cũng thường tìm đến những nơi và những lúc thanh vắng, chẳng hạn như những lúc đêm khuya hay những lúc sáng sớm, trên núi hay ngoài bãi biển để cầu nguyện.
 
Chúng ta cũng vậy. Muốn cho sứ mạng truyền giáo đạt được những thành quả tốt đep, người môn để thừa sai cũng phải biết noi gương Chúa Giêsu, dành thời giờ cho việc cầu nguyện. Càng hoạt động nhiều, thì lại càng phải cầu nguyện nhiều. Bởi vì khi cầu nguyện là lúc chúng ta kín múc được mọi ơn thánh và nghị lực thiêng liêng cần thiết. Nếu lơ là việc cầu nguyện, người môn đệ thừa sai giống như một cái máy phải chạy hoài, nhưng không được tiếp săng, nhớt và nước. Đến một lúc nào đó máy sẽ nổ banh và không còn dùng được nữa.
 
Việc thứ hai đó là hãy sống tinh thần nghèo khó. Người môn đệ thừa sai phải siêu thoát, không quyến luyến và bám víu vào của cải vật chất. Không chạy theo chúng và cũng không để chúng chi phối, khiến chúng ta trở thành nô lệ cho chúng. Người môn đệ thừa sai phải chia sẻ nếp sống nghèo nàn của những người chung quanh, không đòi hỏi yêu sách, không xa hoa lãng phí, không quan liêu hống hách. Có như vậy, Tin Mừng người môn đệ thừa sai rao giảng mới nảy mầm, lớn lên, trong tâm hồn của những người nghe, để rồi sẽ mang lại những hoa trái tốt lành trong cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội.
 
Hai ngàn năm trôi qua, biết bao nhiêu người chưa được đón nhận tin Mừng. Lời kêu mời của Chúa vẫn còn mang tính cách khẩn thiết: Lúa chín thì nhiều, mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin chũ ruộng sai thợ đi gặt lúa về. Tuy nhiên, chúng ta đã làm được những gì để góp phần nhở bé vào công cuộc truyền bá đức tin của Giáo Hội?
 
 
 

3. Chúa sai tôi đi loan tin bình an và hanh phúc
 
(Suy niệm của Lm. Carolô Hồ Bặc Xái)
 
  1. Dẫn vào Thánh lễ
  2.  
Anh chị em thân mến
 
Bài Tin Mừng hôm nay thuật chuyện Chúa Giêsu sai 72 môn đệ đi khắp nơi như những sứ giả của sự bình an và hạnh phúc. Ngày nay Chúa cũng sai chúng ta như thế. Nhưng muốn là những sứ giả của bình an và hạnh phúc thì trước tiên chúng ta phải có bình an và hạnh phúc trong lòng chúng ta. Đó là hai ơn rất quý mà chúng ta hãy xin Chúa ban trong Thánh lễ này.
 
  1. Gợi ý sám hối
  2.  
Chúng ta chỉ lo đến phần rỗi của riêng mình mà không nghĩ đến việc cứu rỗi người khác.
 
Trong cuộc sống chung đụng với người khác, chúng ta chưa thực sự là những người mang lại bình an và hạnh phúc cho họ.
 
Chúng ta chưa được như Thánh Phaolô, biết sung sướng hãnh diện vì Thập Giá Đức Kitô.
 
III. Lời Chúa
 
  1. Bài đọc I (Is 66, 10-14c)
  2.  
Vua Cyrus nước Ba Tư vừa tiêu diệt đế quốc Babylon và ký sắc lệnh cho phép dân Do Thái hồi hương. Trong bầu khí phấn khởi vui mừng đó, ngôn sứ Isaia nói tiên tri rằng Thiên Chúa sẽ ban phúc lành cho dân. Điều đáng lưu ý là phúc lành quý giá nhất chính là ơn bình an: “Ta sẽ làm cho bình an chảy đến nó (Giêrusalem) như con sông”.
 
  1. Đáp ca (Tv 65)
  2.  
Tv này reo mừng Thiên Chúa và ca ngợi về những ơn lành của Ngài.
 
  1. Bài đọc II (Gl 6, 14-18) (Chủ đề phụ)
  2.  
Trong đoạn thư này gởi tín hữu Galata, Thánh Phaolô chia xẻ cho họ biết một Tin Mừng đặc biệt mà Ngài khám phá ra, đó là giá trị tuyệt vời của thập giá Đức Kitô:
 
Thập giá đã mang lại ơn cứu độ cho mọi người
 
Thập giá trở thành lẽ sống của Phaolô
 
Thập giá là nguồn bình an và hạnh phúc của Ngài.
 
  1. Tin Mừng (Lc 10, 1-12. 17-20)
  2.  
Đoạn Tin Mừng này đã được Phụng vụ cắt bớt khúc giữa (cc 13-16), để chỉ còn lại hai phần chính: Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng (cc 1-12), và các môn đệ rao giảng xong trở về kể chuyện cho Ngài nghe (cc 17-20)
 
a/ Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng:
 
Theo tường thuật của Thánh Luca, Chúa Giêsu đã sai đi rao giảng không phải chỉ nhóm tông đồ mà còn cả nhóm môn đệ nữa. Luca muốn nhấn mạnh rằng không riêng gì các tông đồ, mà tất cả mọi người đều được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng. Ý này lại được làm rõ thêm với con số 72. Đây là số dân của loài người mà St 10 đã liệt kê.
 
“Từng nhóm hai người”: Việc loan Tin mừng không phải là việc của một cá nhân riêng lẻ, mà là việc của cộng đoàn, không phải là độc quyền của riêng ai, nhưng phải liên đới và liên kết với nhiều người khác. “Hãy cầu xin”: Việc đầu tiên mà nhà truyền giáo phải làm là “cầu xin”. Thiên Chúa là chủ mùa gặt, nhận ai vào Nước Thiên Chúa là quyền của Ngài và là ơn của Ngài. Chúa Giêsu bảo cầu xin là để các môn đệ ý thức rằng họ được gọi là nhờ ơn Chúa, và để có thêm nhiều người nữa nhận được ơn ấy.”Như chiên non vào giữa sói rừng”: Chúa Giêsu khuyến cáo các môn đệ về những hiểm nguy và sự thù nghịch mà có thể họ sẽ gặp phải.
 
“Đừng chào ai dọc đường”: việc chào hỏi của người Phương Đông thường kéo theo những câu chuyện rề rà rất lâu. Trong khi sứ mạng loan Tin mừng đòi phải gấp.”Bình an cho nhà này”: đây vừa là một lời chúc vừa là một lời ban ơn bởi vì nó có sức tạo nên điều nó chúc (Is 45, 23). Người rao giảng Tin Mừng phải là “con cái của sự bình an”. Họ phải có bình an trong mình và sau đó đem bình an ấy ban lại cho người khác. Nếu nhà nào đáng được hưởng ơn bình an thì được bình an, nếu không thì ơn bình an trở lại cho người chúc.
 
“Cứ ở lại nhà ấy”: gặp nhà nào đầu tiên cho ở thì người môn đệ hãy ở đó. Đừng tìm hiểu nhà để so sánh chọn lựa nhà nào tiện nghi hơn. Điều quan trọng là loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa chứ không phải tiện nghi cho mình hoặc cách người ta tiếp rước mình. “Ăn uống của người ta cung cấp cho mình”: sứ mạng của môn đệ đừng để bị ảnh hưởng bởi những quan tâm có tính cách trần thế (đòi hỏi hoặc e ngại những gì của ăn uống người ta lo cho mình).”Thợ đáng trả lương”: đây là một nguyên tắc (1Tm 5, 18; 1Cr 9, 11). Nhưng người thừa sai cũng có thể tự ý từ chối (1Cr 9, 14-18). “Người ta dọn thức gì cứ ăn thức ấy”: Người rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu không còn bị bận vướng bởi luật Môsê về sự phân loại thức ăn nào sạch, thức ăn nào dơ (1Cr 10, 27).
 
“Hãy chữa lành các bệnh nhân”: đây là dấu hiệu Nước Thiên Chúa gần đến.
 
“Phủi bụi chân”: người Do Thái thường phủi bụi chân khi từ một vùng đất ngoại trở về đất Palestina vốn được coi là đất thánh. Cử chỉ này có nghĩa là không có chung đụng giữa Israel và dân ngoại. Thành nào không đón nhận sứ điệp của Chúa Giêsu thì cũng cắt đứt liên hệ với dân Thiên Chúa, trách nhiệm là thuộc về họ.Thành đó sẽ đáng chịu phán xét trong ngày chung thẩm, họ sẽ bị trừng phạt nặng nề còn hơn Sôđôma ngày xưa. Việc các thừa sai đến loan Tin mừng là cơ hội cho người ta chọn lựa để hoặc được cứu độ hoặc bị luận phạt.
 
b/ Sau một thời gian đi truyền giáo trở về, các môn đệ vui mừng kể lại cho Chúa Giêsu nghe những thành công của mình. Nhân dịp này Chúa Giêsu nhận xét về kết quả ấy của họ: Ngài chia vui với họ vì những thành công ấy. Nhưng Ngài cho biết họ càng nên vui mừng hơn vì Thiên Chúa đã coi họ là công dân của Nước Trời (“tên các con được ghi trên trời”)
 
  1. Gợi ý giảng
  2.  
* 1. Những kẻ mang bình an
 
Lời đầu tiên mà Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải nói khi vào một nhà nào là “Bình an cho nhà này”. Như thế nghĩa là họ sẽ làm những sứ giả của sự bình an. Nói cách khác, làm sứ giả của bình an là sứ mạng đầu tiên của người môn đệ Chúa.
 
Bắc Ai Len là một đất nước mà hai khối dân Công giáo và Tin lành thù ghét nhau và nhiều lần bắn giết nhau. Vào một dịp lễ Giáng sinh, một Linh mục công giáo đi sang bên kia đường để đến thăm một Mục sư Tin Lành. Vị Mục sư rất cảm động, đón tiếp vị Linh mục rất niềm nỡ. Ít lâu sau Vị Mục Sư cũng sang bên kia đường để thăm vị Linh mục. Tình thân giữa hai người ngày càng thắm thiết hơn. Tuy nhiên một vài tín đồ lớn tuổi thì nổi giận. Họ tìm đủ cách để cấp trên của Giáo Hội thuyên chuyển vị Mục sư ấy đi nơi khác.
 
Vị Linh mục và Vị Mục sư trên chỉ làm điều mà tất cả các môn đệ Chúa Giêsu phải làm, đó là làm những sứ giả của bình an và hòa giải trong một xã hội có nhiều chia rẻ.
 
Bình an không phải là một cái gì tiêu cực do không có chiến tranh và thù hận. Nó đòi phải có tinh thần cởi mở, tình huynh đệ, lòng khoan dung, thiện chí và ước muốn hòa giải. Nó buộc chúng ta đi đến với người khác. Nó giúp chúng ta gỡ bỏ những rào cản của nghi kỵ, sợ hãi, thành kiến và óc cố chấp.
 
Trước lúc Rước Lễ, chủ tế chúc “Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em”. Đây thực là một món quà quý giá mà thế gian không thể ban tặng được. Tiếp đó chủ tế kêu gọi “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau”. Đáp lời Ngài, chúng ta chào nhau, đến bắt tay nhau hoặc ôm hôn nhau. Ước chi những cử chỉ đó không phải chỉ là hình thức mà thực sự bày tỏ lòng thân thiện của chúng ta. Cuối Thánh lễ, chủ tế lại chúc “Chúc anh chị em ra về bình an”. Câu này có nghĩa là chúng ta đã đến nhà thờ lãnh nhận bình an của Chúa, vậy khi ra về chúng ta cũng hãy mang bình an ấy đến cho mọi người chúng ta sẽ gặp gỡ.
 
* 2. Mênh mông lúa đồng
 
Một buổi tối nọ, ông John Keller, một diễn giả nổi tiếng được mời thuyết trình trước khoảng một trăm ngàn người tại vận động trường Los Angeles. Đang diễn thuyết, bỗng ông dừng lại và nói: “Xin các bạn đừng sợ. Tôi sắp cho tắt tất cả đèn trong sân vận động này”. Đèn tắt, sân vận động chìm sâu trong bóng tối dày đặc. Ông John Keller nói tiếp: “Bây giờ tôi đốt lên một que diêm. Những ai nhìn thấy ánh lửa của que diêm tôi đốt thì hãy kêu lớn lên: “Đã thấy!” Một que diêm được bật lên, cả vận động trường vang lên: “Đã thấy!” Sau khi đèn được bật sáng, ông John Keller giải thích: “Ánh sáng của một hành động nhân ái nhỏ như một que diêm sẽ chiếu sáng trong đêm tăm tối của nhân loại y như vậy”. Một lần nữa, tất cả đèn trong sân vận động lại tắt. Một giọng nói vang lên ra lệnh: “Tất cả những ai có mang theo hộp quẹt, xin hãy đốt cháy lên!” Bỗng chốc, cả vận động trường rực sáng. Ông John Kener kết luận: “Tất cả chúng ta hợp lực cùng nhau, có thể chiến thắng bóng tối, sự dữ và oán thù bằng những đốm sáng nhỏ của tình thương và lòng tốt của chúng ta”.
 
Đã qua 2000 năm nhưng lời dạy của Chúa Giêsu vẫn như đang nói với chúng ta hôm nay: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” (Lc 10, 2). Thế giới có trên 6 tỉ người, mà kẻ tin vào Chúa mới chỉ hơn một tỉ. Riêng tại Á Châu, chiếm 2/3 dân số thế giới, nhưng người Công giáo chỉ không tới 3%.
 
Cánh đồng lúa mênh mông còn bị bỏ hoang không thợ gặt hái. Thế giới này dường như vẫn còn mò mẫm trong bóng đêm dày đặc của sự dữ, của tranh chấp, của oán thù; rất cần những đốm sáng của tình thương, của khoan dung, của tha thứ. Thế nên, không lạ gì Chúa Giêsu đã nói: “Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói” (Lc 10, 3)
 
“Ra đi” chứ không phải “ở lại”, đó là một lệnh truyền. Cả cuộc đời của Thầy là một hành trình: Sinh ra ngoài đường, sống và rao giảng ngoài đường, cuối cùng chết cũng ngoài đường. Thầy luôn lên đường và không ngừng ra đi. Công đồng Vaticano II cũng long trọng khẳng định: “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo” (TG 2). Đức Thánh Cha Gian Phao lô II cũng quả quyết: “Không một ai trong những người rin vào Đức Kitô, không một tổ chức nào trong Giáo Hội được miễn khỏi trách vụ cao cả này: Đó là toan báo Đức Kitô cho mọi dân tộc” (Sứ vụ Đấng Cứu Độ, 3).
 
Vậy ơn gọi của người tín hữu Kitô là “Ra đi”.
 
Ra đi đem “bình an” đến cho các dân tộc, bình an giữa mọi người với nhau, bình an với Chúa.
 
Ra đi chữa lành bệnh nơi thể xác cũng như trong tâm hồn.
 
Ra đi loan báo Nước Thiên Chúa đã đến gần, nước tình yêu và ân sủng, nước công chính và bình an.
 
Thánh Phao lô đã phải thốt lên: “Khốn cho thân tôi: nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9, 16). Nhưng việc làm mới chứng thực cho lời rao giảng, và lời rao giảng sẽ soi sáng cho việc làm. Ra đi là để làm chứng, và lời chứng sáng giá nhất chính là việc làm. Đúng như L. Moody đã nói: “Các ngọn hải đăng không thổi còi ầm ĩ, chúng chỉ chiếu sáng”.
 
* 3. “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít”
 
Catherine de Hueck Doherty làm việc trong một quán bar ở Mahattan. Đến 4 giờ sáng, cô nói lời tạm biệt với các khách uống rượu. Một người hỏi:
 
– Cô đi đâu? – Tôi phải đi Nhà thờ dự Thánh lễ, vì hôm nay là Chúa nhật.
 
– Thế cô là người công giáo hả? – Đúng vậy.
 
Nhiều người trong đám khách rất ngạc nhiên vì không ngờ Catherine có thể vừa là một người công giáo ngoan đạo vừa làm việc tại một nơi phức tạp như vậy. Vài tuần sau, một người trong đám khách trở lại nói với Catherine: “Cô đã khiến tôi suy nghĩ nhiều. Cô có thể vừa sống đạo tốt vừa làm việc ơ một nơi như thế này, thì tại sao tôi không thể!” Và người ấy đã trở lại nhà thờ.
 
Lần khác, Catherine đang trên đường tới trạm xe điện ngầm thì gặp một bà cụ. Bà cụ mở lời “Cô có vui lòng nói chuyện với tôi giây lát không?” Cô vui vẻ nhận lời. Hai người đã nói chuyện với nhau trong suốt chặng đường. Sau đó hai người còn kết thân với nhau và Catherine thường xuyên tới thăm viếng bà cụ cho tới ngày bà cụ qua đời.
 
“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít”. Một kitô hữu có ý muốn làm thợ gặt như cô Catherine thì không bao giờ thiếu dịp để gặt lúa cho Chúa.
 
* 4. Mảnh suy tư
 
Tông đồ là kẻ được sai đi.
 
Vì thế làm tông đồ rất khác với làm chuyên viên. Làm chuyên viên thì cần phải có tài năng. Còn làm tông đồ thì chỉ cần đi theo lệnh Chúa sai, đến với người Chúa sai mình đến, và mọi việc khác hầu như Chúa sẽ làm tất cả.
 
* 5. Chuyện minh họa
 
a/ Đi giảng
 
Ngày kia, thánh Phanxicô Assidi nói với một thày dòng: “Nào chúng ta cùng đi phố và giảng đạo. ” Hai người ra đi, hết con đường trước mặt, quẹo sang đường khác rồi về nhà. Thày dòng thắc mắc hỏi: “Con nghe ngài nói là mình đi phố và giảng đạo cơ mà!” Thánh Phanxicô đáp: “Chúng ta đã giảng đạo rồi đó! Khi chúng ta đi đường. Mọi người nhìn ta, thấy phong cách của ta, nghĩ về đời sống của ta và rồi họ sẽ thắc mắc về nguồn sống nơi linh hồn của họ. Như thế chẳng phải là ta đã giảng đạo cho họ rồi sao?”
 
Câu nói của thánh nhân quả là khôn ngoan. Người Kitô-hữu không có cách truyền giáo nào hay hơn là chính đời sống chứng tá của họ.
 
b/ Khuôn vàng thước ngọc
 
“Hãy nói về Chúa cho những người quanh bạn nghe; và hãy nói về những người quanh bạn cho Chúa nghe”.
 
  1. Lời nguyện cho mọi người
  2.  
Chủ tế: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu mời gọi người Kitô hữu cộng tác vào công cuộc cứu chuộc của Người. Với ước mong trở nên những sứ giả Tin mừng cứu độ, chúng ta cùng dâng lời cầu xin:
 
  1. Hội thánh là dấu chỉ ơn cứu độ Chúa sẵn sàng ban cho hết thảy mọi người / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa gửi nhiều thợ gặt lành nghề / đem tin mừng đến cho mọi loài thọ tạo.
  2.  
  3. Khát vọng sâu xa nhất của con người ở mọi thời đại / là được sống bình an và hạnh phúc / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban hòa bình cho những vùng còn khói lửa chiến tranh / để hết thảy mọi người đều được sống hạnh phúc và an bình.
  4.  
  5. Tin tưởng vào Chúa quan phòng là thái độ người Kitô hữu cần có suốt cuộc đời của mình / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi tín hữu / biết đặt trọn niềm tin vào sự quan phòng kỳ diệu của Chúa / mỗi khi gặp thử thách gian truân.
  6.  
  7. Số linh mục trên thế giới ngày nay thiếu hụt trầm trọng / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết góp phần vào việc đào tạo linh mục tương lai của các giáo phận / bằng lời cầu nguyện / cũng như bằng việc rộng rãi giúp đỡ Chủng viện.
  8.  
Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu, Chúa sai chúng con đem Tin mừng cứu độ, mang sứ điệp yêu thương đến cho biết bao anh chị em chưa nhận biết Chúa. Xin Chúa cho chúng con biết dùng đời sống bác ái yêu thương và phục vụ tận tụy, mà làm tròn sứ mạng này. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
 
 
 

4. Bình an của Chúa.
 
Ngày kia có một người đậu xe bên lề đường, rồi vào trong một cửa hàng để mua sắm mấy thứ cần thiết, khi quay trở ra thì thấy trên ghế ngồi có một mẩu giấy với hàng chữ: Thưa ông, tôi đã tính ăn cắp chiếc xe hơi này, nhưng tình cờ đọc thấy lời cầu phúc “Bình an cho quý bạn”, được dán trên tấm kính. Lời cầu chúc này khiến tôi dừng lại và suy nghĩ. Tôi tin chắc nếu tôi ăn cắp chiếc xe này, thì hẳn ông sẽ không còn được bình an và chính tôi cũng vậy. Vì đây là lần đầu tiên tôi ra nghề. Tôi cũng cầu chúc bình an cho ông và cho cả tôi nữa.
 
Câu chuyện ngộ nghĩnh trên đây khiến chúng ta nhớ tới lời Chúa qua đoạn Tin Mừng sáng hôm nay: Khi vào bất cứ nhà nào, trước tiên các con hãy nói: Bình an cho nhà này. Nếu ở đó có người yêu chuộng sự bình an, thì sự bình an sẽ ở lại trên người ấy, bằng không sự bình an sẽ trở lại với các con.
 
Áp dụng lời phán dạy này và câu chuyện trên, chúng ta thấy rằng: Tấm bảng gắn trên kính xe đã đem lại sự bình an của Đức Kitô cho kẻ đang dự tính ăn cắp xe. Kẻ ăn trộm này là người yêu chuộng sự bình an của Đức Kitô, nên sự bình an đã ở lại trên anh ta. Vậy đâu là sự bình an của Đức Kitô?
 
Kinh Thánh thường dùng danh từ bình an với bốn ý nghĩa. Ý nghĩa thứ nhất, trên bình diện quân sự thì bình an ám chỉ một tình trạng không có chiến tranh giữa các dân tộc.Ý nghĩa thứ hai trên bình diện cá nhân, thì bình an ám chỉ tình trạng yên ổn của từng người. Ý nghĩa thứ ba trên bình diện tôn giáo, thì bình an là mối liên hệ tình nghĩa tốt đẹp giữa Thiên Chúa và chúng ta. Cuối cùng, bình an còn được Kinh Thánh dùng để nói lên tình trạng trong đó mọi người trên mặt đất sống hoà thuận với Chúa, với người khác và với chính bản thân.
 
Đây là sự bình an mà Chúa nói đến khi Ngài tuyên bố: Ta để lại sự bình an cho các con, Ta ban sự bình an của Ta cho các con. Đây cũng chính là sự bình an mà các thiên thần đã cầu chúc trong đêm Giáng sinh: vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm. Sự bình an này chẳng la gì khác ngoài việc thực thi Nước Chúa trên trần gian. Để thực hiện sự bình an này, Đức Kitô đã xuống thế làm người để hoà giải con người với Thiên Chúa cũng như hoà giải con người với nhau. Bởi vì sự bình an đích thực phải là kết quả của sự hoà giải.
 
Như thế, để có được sự bình an của Chúa, chúng ta cũng phải sống tinh thần hoà giải. Có được sự bình an trong tâm hồn mà thôi chưa đủ, Đức Kitô còn muốn chúng ta mang sự bình an này đến cho những người chung quanh chúng ta. Chính vì thế mà chúng ta hãy cầu nguyện như lời kinh của thánh Phanxicô Assie: Lạy Chúa, xin hãy biến con thành khí cụ bình an của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm. Bởi vì như lời Chúa đã phán: Phúc cho ai xây dựng hoà bình vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
 
 
 

5. Vào nhà, vào thành phố
 
(Trích dẫn từ ‘Manna’)
 
Suy Niệm
 
Dân số Châu Á chiếm gần hai phần ba thế giới nhưng số người nhận biết Chúa chưa tới 3%. Cánh đồng lúa chín mênh mông đang cần thợ gặt.
 
Đức Giêsu hôm nay vẫn có nhiều nơi Ngài muốn đến, nhiều căn nhà, nhiều thành phố Ngài muốn đặt chân. Ngài cần những người đi trước để chuẩn bị cuộc gặp gỡ giữa Ngài với con người.
 
Khoa học càng tiến bộ, cuộc sống càng văn minh thì càng có nhiều lãnh vực mới Đức Giêsu cần vào.
 
Đưa Ngài vào thật là một thách đố cho chúng ta.
 
Ngài phải vào cả những nơi tưởng như bị cấm. Nhưng nếu chúng ta được Ngài sai vào trước, thì thế nào cuối cùng Ngài cũng vào được.
 
Nếp sống cao ở thành thị vừa gây cản trở, vừa cung ứng cho ta nhiều phương tiện để đưa Ngài vào. Hãy chuẩn bị cho Ngài vào thành phố của bạn, vào trường học, sân vận động, vào xí nghiệp, công ty… Hãy chuẩn bị để Ngài vào từng nhà, gặp từng người.
 
Mọi Kitô hữu đều được mời gọi để làm việc đó.
 
Đâu là khuôn mặt của người được sai hôm xưa? Hiền lành như chiên giữa bầy sói. Khó nghèo thanh bạch, không túi tiền, giầy dép, bao bị. Khiêm tốn đón nhận sự giúp đỡ về nhà ở cơm ăn. Tôn trọng tự do tha nhân, chấp nhận bị từ chối.
 
Người Châu Á hôm nay dễ đón nhận người tông đồ sống khổ hạnh, thoát tục, sống thư thái, trầm tư, sống nhân từ, phục vụ.
 
Cuộc sống của họ phải tỏa hương thơm của thế giới mai sau, phải có khả năng nâng con người lên Đấng Tuyệt Đối.
 
Đâu là đóng góp của người được sai hôm xưa? Vừa chữa người đau yếu và trừ quỷ, vừa loan báo về triều đại Thiên Chúa gần đến. Việc làm chứng thực lời giảng, lời giảng soi sáng việc làm. Cả hai đều đem lại niềm vui, bình an và hạnh phúc.
 
Thế giới hôm nay vẫn là một thế giới bệnh tật, một thế giới thèm khát tự do, thèm được là mình. Chúng ta sẽ rao giảng gì cho 97% dân Châu Á mà phần đông đã tin vào một Đấng Cứu Độ?
 
Đức Giêsu đem đến cho nhân loại quà tặng đặc biệt nào? Chúng ta phải tập trình bày sứ điệp Kitô giáo, nên cũng phải học nhiều nơi các tôn giáo Á Châu. Các giám mục Malaysia, Singapore và Brunei đã liệt kê những gì có thể học được nơi họ.
 
Học cầu nguyện, ăn chay, bố thí nơi người Hồi giáo. Học suy niệm và chiêm niệm nơi người Ấn giáo. Học từ bỏ của cải và trọng sự sống nơi người Phật tử. Học thái độ thảo hiếu, tôn lão kính trưởng nơi đạo Khổng. Học sự đơn sơ, khiêm tốn nơi người theo đạo Lão.
 
Càng học, ta càng dễ giới thiệu Đức Giêsu, và càng thấy Ngài đang ẩn mình nơi những tôn giáo khác.
 
Gợi Ý Chia Sẻ
 
Theo ý bạn, đâu là những nét đặc biệt của mẹ Têrêxa Calcutta, khiến cả thế giới mộ mến?
 
Theo ý bạn, muốn truyền giáo thành công cho dân tộc Việt Nam, người tông đồ cần có những đức tính căn bản nào?
 
Cầu Nguyện
 
Lạy Chúa Giêsu, xin sai chúng con lên đường nhẹ nhàng và thanh thoát, không chút cậy dựa vào khả năng bản thân hay vào những phương tiện trần thế.
 
Xin cho chúng con làm được những gì Chúa đã làm: rao giảng Tin Mừng, trừ quỷ, chữa lành những người ốm đau.
 
Xin cho chúng con biết chia sẻ Tin Mừng với niềm vui của người tìm được viên ngọc quý, biết nói về Ngài như nói về một người bạn thân.
 
Xin ban cho chúng con khả năng đẩy lui bóng tối của sự dữ, bất công và sa đọa.
 
Xin giúp chúng con lau khô những giọt lệ của bao người đau khổ thể xác tinh thần.
 
Lạy Chúa Giêsu, thế giới thật bao la mà vòng tay chúng con quá nhỏ. Xin dạy chúng con biết nắm lấy tay nhau mà tin tưởng lên đường, nhẹ nhàng và thanh thoát.
 
 
 

6. Bình an
 
Nói đến các trường đại học nổi tiếng tại thủ đô Manila Phi Luật Tân, người ta không thể không nhắc đến đại học Ateneo de Manila của các Linh mục Dòng Tên. Đây là một trong những trường cung cấp rất nhiều nhân tài cho nước Phi Luật Tân và di nhiên là đa số học sinh và sinh và sinh viên của đại học này đầy là thành phần khá giả trong xã hội.
 
Dưới chân trường học nằm trên một ngọn đồi này là một khu lao động nghèo mà có lẽ nhiều người không biết đến, và trong cái xóm nghèo nàn ấy có một cộng đoàn tu sĩ mà có lẽ nhiều người không biết đến, đó là cộng đoàn các tiểu đệ Charles de Foucaul, đa số các tu sĩ sống ở đây là người Việt Nam hoặc từng sống ở Việt Nam.
 
Một hôm, một Linh Mục Dòng Tên người Mỹ là giáo sư đại học Ateneo tình cờ đi lạc vào trong cái khu lao động ấy, điều làm cho ông ngạc nhiên là trong cái khu nghèo nàn đó lại có một người Bỉ, đây là một tiểu đệ đã sống ở Việt Nam gần 30 năm và đã bị trục xuất sau năm 1975. Sau một hồi trao đổi với nhau, vị linh mục người Mỹ mới hỏi người Bỉ như sau: Ông làm gì ở đây? Người Bỉ trả lời: Tôi đi chợ, tôi nấu ăn, tội giặt quần áo, tôi sống với những người anh em nghèo trong khu lao động này.
 
Nghe thế vị linh mục người Mỹ như có vẻ tiếc rả sự hy sinh lãng phí của người Bỉ. Ông nói về mình như sau: Còn tôi, tôi sang đây là để dạy học và thuyết trình. Tôi đi đây đi đó, tôi đào tạo những người hữu ích cho xã hội.
 
Cuộc gặp gỡ và đối thoại trên đây giữa hai vị tu sĩ trong Giáo Hội, có lẽ cho chúng ta thấy được một số những khía cạnh khác nhau trong công cuộc truyền giáo trong Giáo Hội. Vị Giáo su người Mỹ trên đây là điển hình có một đội ngũ đông đảo các nhà truyền giáo trong xã hội trên khắp thế giới, từ thành thị cho đến thôn quê, từ học đường cho đến các xưởng, từ đất Kinh đến miền thượng …nơi nào cũng cũng có những nhà truyền giáo ngày đêm hăng say truyền giáo và hoạt động. Nếu có những nhà truyền giáo hăng say hoạt động và rao giảng, thì cũng có những nhà truyền giáo sống giống như chứng nhân Tin mừng.
 
Việc tiểu đệ Charles de Foucaul người Bỉ trên đây có lẽ là tiêu biểu của không biết bao nhiêu nhà truyền giáo âm thầm lấy cuộc sống chia sẻ của mình như một chứng từ cho Nước Chúa. Tựu trung tích cực hoạt đồng hay âm thầm sống chứng nhân, cả hai hình thức đều có chung một sứ mệnh, đó là làm chứng cho Đức Kitô và mở mang và mở mang Nước Chúa. Cả hai đều được sai đi, cả hai đều bị ràng buộc bởi một đòi hỏi sơ bản nhất mà Chúa Giêsu đã đề ra cho các đồ đệ khi Ngài sai các ông lên đường rao giảng Tin mừng. Ngài nói với các ông: “Các con đường mang theo túi, tiền, bao bị, giầy dép và đừng chào hỏi ai dọc đường”. Như vậy, một cuộc sống siêu thoát một cuộc sống không lệ thuộc vào những của cải trần gian này, đó là biểu hiện tiên quyết của những chứng nhân Nước Trời.
 
Ra đi không hẳn là rời bỏ quê hương xứ sở của mình để đến một vùng đất xa lạ. Ra đi thiết yếu là ra khỏi chính mình, ra khỏi con người ích kỷ của mình để đi đến với tha nhân trong tinh thần hòa giải, yêu thương, phục vụ quên mình. Đó là ý nghĩa của mệnh lệnh mà Đức Giêsu trao ban các môn đệ khi Ngài nói: “ Vào nhà nào trước tiên các con hãy nói: Bình an cho nhà này”. Hiện diện với tha nhân bằng tinh thần chia sẻ, cảm thông, tha thứ, đó là sự ra đi đích thực của nhà truyền giáo.
 
Giáo Hội tự bản chất là truyền giáo. Điều đó có nghĩa là Giáo Hội phải thể hiện ý muốn của Nước Trời mà Chúa Giêsu đã loan báo, nước của công lý, nước của hòa bình, nước của yêu thương, nước đó phải được tìm thấy trong Giáo Hội của Đức Kitô. Là thành phần của Giáo Hội, mỗi người tín hữu chúng ta tự bản chất cũng là một nhà truyền giáo. Điều đó cũng có nghĩa là những giá trị của Nước Trời cần phải được thể hiện trong chính cuộc sống của chúng ta.
 
Người tín hữu Kitô sẽ chỉ là người có tên gọi, có danh nghĩa mà không có thực chất nếu cuộc sống của họ chưa thực sự là một chứng nhân của Nước Trời. Trong một xã hội nếu chỉ có những lời lẽ rêu rao và những khẩu hiệu rỗng tuếch thì con người chưa đạt được những thực tại của Nước Trời, hơn bao giờ hết người tín hữu Kitô Việt Nam chúng ta đang đứng trước một thách đố lớn, đó là trở thành những điểm tựa đáng tin cậy, những chứng từ sống động của những thực tại Nước Trời.
 
Chúng ta sẽ phải sống như thế nào để những người xung quanh nhìn vào sẽ phải thốt lên sự bỡ ngỡ như các người Do thái ngày xưa nhìn vào các tín hữu tiên khởi đã phải thốt lên: “Xem kìa, họ thương nhau là dường nào”. Kitô giáo thiết yếu là một sức sống, sức sống ấy chính là Đức Giêsu Kitô, và sống đạo là sống bằng chính sức sống của Chúa Giêsu và truyền đạt sức sống ấy cho mọi người xung quanh. Chúng ta hãy xin Chúa mở rộng tâm hồn để đón nhận sức sống ấy và chia sẻ sức sống ấy với tất cả mọi người qua mọi thế hệ.
 
 
 

7. Công việc
 
Một cơ quan thăm dò dư luận ở phương Tây vừa mới công bố một cuộc điều tra về vấn đề tín ngưỡng tại 15 nước Tây phương, trong đó có Mỹ và Nhật Bản. Kết quả cho thấy Mỹ là nước mà dân chúng mê tín nhất và tin vào Chúa nhiều nhất. Khi hỏi “có tin ở Thượng đế không?” thì 95% người Mỹ trả lời “có”, còn ở Châu Âu là 75% và Nhật Bản là 39%. Cuộc điều tra còn cho thấy phụ nữ tin vào Chúa và ma quỉ nhiều hơn nam giới.
 
Như thế thì bi quan hay lạc quan? nếu nhìn tổng thể và sâu rộng hơn thì một người Kitô hữu thức thời, có tinh thần trách nhiệm cao, chắc chắn không thể lạc quan về tình hình đạo công giáo trên thế giới ngày nay. Với nhận xét này, chúng ta suy nghĩ thế nào về những gì Chúa dạy trong bài Phúc Âm hôm nay?
 
Vẫn biết rằng, khi xuống thế làm người, một phần nào đó, Chúa Giêsu bị hạn chết trong không gian và thời gian, nhưng quyền năng của một Ngôi Vị Thiên Chúa nơi Ngài đâu có bị giảm sút. Thế mà, thay vì sống trăm tuổi hay trường thọ hơn nữa để có đủ thời giờ rao giảng Tin mừng cứu độ muôn dân thì Ngài lại chỉ sống có 33 năm và dành vỏn vẹn có 3 năm để đi giảng đạo. Thêm vào đó, Ngài còn nhớ đến mấy ông quê mùa, dốt nắt phụ giúp công việc truyền đạo khi chọn 12 tông đồ và 72 môn đệ. Kết quả là sau 20 thế kỷ, nhân loại nay đã trên 6 tỷ người mà mà chỉ có 1 tỷ rưỡi Kitô hữu. Tại sao Chúa Giêsu không dùng quyền phép bắt nhân loại theo đạo cả mà phải nhờ đến con người phụ giúp và còn dạy phải xin Chúa Cha sai thêm thợ gặt truyền giáo?
 
Trước hết, vì hành động với con người nên Chúa phải sử dụng đường lối và phương pháp phù hợp với con người. Nghĩa là với quyển năng Chúa có thể hành động theo cách thức của Ngài, nhưng Ngài không làm vì con người còn phải chịu lệ thuộc vào những điều kiện có giới hạn, đang sinh sống trong một xã hội trần thế lắm ràng buộc, đầy thiếu sót.
 
Thứ đến, Chúa muốn những kẻ tin theo Ngài phải là những con người có tự do dân chủ, những thợ gặt tình nguyện, chứ không phải là những tên nô lệ hay tù nhân. Do đó, Nước Chúa hay Giáo Hội của Ngài phải là một tập thể bao gồm những phần tử biết làm chủ lấy đời mình để có thể tin tưởng, yêu mến hết tình, chứ không tập hợp những kẻ sợ sệt hay những cái máy vô hồn được điều khiển.
 
Cuối cùng, Chúa muốn mọi tín hữu phải thâm tín rằng việc rao giảng Tin mừng, mở rộng Nước Chúa là công việc của con người, chứ không phải để mặc Chúa lo toan, định liệu cả. Vì thế, khi Chúa Giêsu bảo chúng ta xin Chúa Cha sai thêm thợ gặt, điều đó chứng tỏ Chúa muốn trao cho chúng ta trách nhiện là phải lo lấy phần rỗi của mình và của anh em nữa.
 
Nếu mỗi người chúng ta đều hiểu thông suốt được như thế thì chúng ta phải hết sức cảm ơn Chúa vì Ngài dành cho chúng ta cái vinh dự lớn lao là được cộng tác với Ngài trong công cuộc cứu nhân độ thế. Và nếu ¾ nhân loại ngày nay chưa nhận biết Chúa thì lỗi đó không phải do Chúa kém quyền năng, mà là do mỗi người công giáo chúng ta thiếu trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa trong việc mở mang Nước Chúa, từ chối vinh dự làm con hiếu thảo biết tha thiết đến việc của Cha trên trời. Như thế, sứ mạng truyền giáo là một sứ mạng quan trọng và cấp bách. Cho nên, sứ giả của Chúa phải mau mắn đem Tin mừng đến tận tay người nhận sớm hết sức có thể, không được để vương vãi hay trì trệ dọc đường vì ham việc trần thế hơn việc cứu rỗi anh em. Nói khác đi, người làm việc tông đồ là phải vội. Vội vì Chúa, vội vì phần rỗi của anh em, vội vì thời giờ Chúa ban cho mỗi người quá ngắn ngủi và vô cùng quí giá. Sự nôn nóng này của kẻ làm con Chúa biểu lộ một cuộc tranh đấu quyết liệt với tà thần để cứu cho được các linh hồn về cho Chúa. Do đó, người rao giảng Tin mừng không thể hành động như kiểu của những kẻ ăn không ngồi rồi, của những viên chức ngoại giao viếng thăm rườm rà, của những kẻ trà dư tửu hậu. Trái lại Chúa muốn con cái của Ngài phải nhanh tay lẹ mắt trong công việc cứu rỗi thiêng liêng như con cái thế gian hăng say mưu cầu lợi ích, chớp thời cơ làm giàu cho mình. Cuộc sống, việc làm, mơ ước, tình yêu, giải trí…tất cả đang bủa vây chúng ta khiến chúng ta càng ngày càng sao nhãnh, quên mất phần rỗi của mình và của anh em. Hãy nhớ rằng phần rỗi của ta gắn liền với phần rỗi của anh em. Nếu ta không lo lắng cứu vớt người khác thì chẳng có ai thương tình cứu giúp ta cả.
 
 
 

8. Anh em hãy ra đi.
 
(Trích dẫn từ ‘Manna’)
 
Suy Niệm
 
Ai được mời gọi gặt lúa? Không phải chỉ là nhóm Mười Hai tông đồ, mà là 72 môn đệ; Không phải chỉ là 12 chi tộc Israel, mà là mọi người thuộc mọi dân nước.
 
Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Mọi Kitô hữu đều được mời làm thợ gặt. Cả linh mục, tu sĩ, giáo dân đều được sai đến với cánh đồng hôm nay.
 
Một lời rao giảng làm rộn lên niềm vui: Nước Thiên Chúa đã đến gần anh chị em.
 
Một lời chào thân thiện: Bình an cho nhà này.
 
Một thứ hành trang nhẹ tênh: không túi tiền, bao bị, giày dép.
 
Một việc phải làm: chữa lành những người ốm đau.
 
Một thái độ phải có: khiêm tốn và siêu thoát, đón nhận những gì người ta cung cấp cho, không tìm kiếm tiện nghi, dễ chịu.
 
Nếu hôm nay Đức Giêsu sai chúng ta đi, Ngài sẽ dặn chúng ta điều gì? Chắc Ngài sẽ dặn khác, vì cánh đồng con người đã đổi khác.
 
Chúng ta phải hiểu thấu nỗi khát vọng của bạn bè, phải biết nói sao để họ hiểu được, nhạy cảm để thấy điều họ thực sự đang cần, và sống hài hòa với lời mình giảng.
 
Có thể chúng ta sẽ đi giày, và có ba, bốn áo, sẽ có ví tiền và máy vi tính xách tay, sẽ có văn phòng, máy fax và điện thoại. Nhưng những thứ đó không làm chúng ta nặng nề.
 
Hành trang không được trở thành những cản trở khiến ta mất sự tín thác vào Thiên Chúa và xa lạ với con người, nhất là những người nghèo khổ.
 
Hôm nay Chúa sai chúng ta làm chứng giữa đời, đôi khi ta thấy mình như chiên non giữa bầy sói. Chúng ta cứ phải trăn trở hoài để Tin Mừng chúng ta rao giảng cho bạn bè, thực sự đáp ứng những khát khao thầm kín của họ: khát khao an bình, tự do, niềm tin và hạnh phúc, khát khao tình huynh đệ, sự chia sẻ, tha thứ, cảm thông; để những việc chúng ta làm cho họ xoa dịu được nỗi đau nhức nhối, và giải phóng họ khỏi xiềng xích của ác thần, đang nô lệ hoá con người dưới muôn vàn hình thức.
 
Các môn đệ hớn hở mừng vui khi lần đầu tiên họ trừ được quỷ nhân danh Thầy. Vương quốc của Satan bị đẩy lui bởi những con người bình thường và yếu đuối.
 
Hôm nay, khi xây dựng một thế giới công bằng và yêu thương chúng ta tiếp tục đẩy lui Satan, để Nước Chúa lớn lên trên mặt đất này, và trở nên viên mãn trong ngày sau hết.
 
Gợi Ý Chia Sẻ
 
Muốn trở thành tông đồ cho người trẻ hôm nay, theo ý bạn, cần có những điều kiện gì?
 
Satan và sự ác vẫn hoành hành trên thế giới và trong từng tập thể. Chúng ta phải làm gì để chống lại? Bạn có thấy bóng dáng của Satan trong đời bạn không?
 
Cầu Nguyện
 
Lạy Chúa Giêsu, xin sai chúng con lên đường nhẹ nhàng và thanh thoát, không chút cậy dựa vào khả năng bản thân hay vào những phương tiện trần thế.
 
Xin cho chúng con làm được những gì Chúa đã làm: rao giảng Tin Mừng, trừ quỷ, chữa lành những người ốm đau.
 
Xin cho chúng con biết nói Tin Mừng với niềm vui, như người tìm được viên ngọc quý, biết nói về Ngài như nói về một người bạn thân.
 
Xin ban cho chúng con khả năng đẩy lui bóng tối của sự dữ, bất công và sa đọa.
 
Xin giúp chúng con lau khô những giọt lệ của bao người đau khổ thể xác tinh thần.
 
Lạy Chúa Giêsu, thế giới thật bao la mà vòng tay chúng con quá nhỏ. Xin dạy chúng con biết nắm lấy tay nhau mà tin tưởng lên đường, nhẹ nhàng và thanh thoát.
 
 
 

9. Mừng vì được ghi danh Nước Trời – Lm. Anmai.
 
Nhớ lại một cha già trong nhà Dòng, gốc của Ngài là người Huế nên Ngài hay nói với những ai thăm Ngài rằng mỗi người hãy nhìn lên Thánh Giá Chúa và sống “in như ri”. Giọng Huế rất hay với chữ “in như ri”. “In như ri” chính là chữ “In ri” (Vua dân Do Thái) được treo trên đầu Chúa Giêsu. Câu nói dí dỏm của Cha già xem ra mà hay đó chứ! Là kitô hữu, phải chăng mỗi người được mời gọi nhìn lên thánh giá Chúa và sống mầu nhiệm ấy.
 
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhiều người đã kinh nghiệm và đã sống mầu nhiệm thánh giá ấy. Một trong những người đã sống mầu nhiệm thánh giá một cách trọn vẹn đó chính là Thánh Phaolô tông đồ. Khẳng định về kinh nghiệm của thánh giá hôm nay chúng ta được nghe Thánh Phaolô tông đồ nhắc lại: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian”.
 
Chẳng cần phải minh giải nhiều, chẳng phải nói nhiều, những người mang tên là kitô hữu đã biết khá nhiều về con người của Phaolô. Phaolô đã hơn một lần bay nhảy và đã hơn một lần bách hại đạo Chúa Giêsu. Phaolô đã bằng mọi cách diệt cho bằng được nhưng ai xưng mình là kitô hữu. Thế nhưng, sau khi được Thiên Chúa “mở mắt” cho thấy Ngài thì cuộc đời của Phaolô thay đổi hoàn toàn. Cứ đọc lại tất cả các thư của Thánh Phaolô, chúng ta sẽ thấy rõ cảm nghiệm của Ngài về Chúa Giêsu.
 
Phải nói rằng cuộc đời của Phaolô là một cuộc đời tuyệt vời. Trước khi biết Chúa Giêsu thì Phaolô sống theo kiểu người đời nhưng khi biết Chúa Giêsu thì Phaolô đã sống chết với con người mang tên Giêsu đó. Với Phaolô, đâu phải đơn giản để sống chết với Chúa Giêsu vì trước đó Phaolô là người bách hại Chúa. Khi cuộc đời của Phaolô thay đổi 180 độ thì chẳng ai tin được. Người ta đã cho rằng Phaolô là người giả tạo vì trước đó thì bắt Chúa còn sau thì lại rao giảng Tin mừng về con người mà trước đây mình bách hại. Vì Chúa Giêsu, Phaolô đã lội ngược dòng để minh chứng cuộc đời của mình thuộc về Chúa Giêsu.
 
Chúa Giêsu – Nước Thiên Chúa lúc nào cũng đối nghịch với thế gian thì phải. Thế gian thì sống bất minh, sống gian tà, sống thiếu sự thật còn Nước Thiên Chúa là nước của sự thật, sự sống vĩnh cửu. Những ai sống vì Nước Thiên Chúa, sống với Nước Thiên Chúa, sống cho Nước Thiên Chúa thì bị người đời thoá mạ và ngược đãi. Không dừng lại ở thoá mạ, ngược đãi mà còn bị loại trừ ra khỏi thế gian này cho rảnh mắt.
 
Người bị loại ra khỏi thế gian mà ai ai cũng biết đó chính là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu biết trước chương trình của Chúa Cha dành cho Ngài và giờ của Ngài phải đến thế gian.
 
Thật sự ra Chúa Giêsu đã biết trước thế gian như thế nào nhưng vì Thánh ý của Cha nên Ngài vẫn đến. Chúa Giêsu đã đến thật và Ngài đã sống giữa thế gian này. Sống giữa thế gian, dẫu là Con Chí Thánh của Cha trên trời ấy nhưng Chúa Giêsu đã đón nhận tất cả những đau khổ của thế gian dành cho Ngài. Chúa Giêsu là Chúa còn phải đón nhận đau khổ như vậy để rồi môn đệ của Chúa, những người theo Chúa cũng phải sống cái đau khổ như Thầy Chí Thánh đã sống.
 
Biết trước được những khó khăn ấy, khi sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã cảnh báo cho các ông: “Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường.5 Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này! ” Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông.” Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: “Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.” Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó.”
 
Sau khi nghe lời chỉ bảo của Thầy, các môn đệ đã ra đi và đã trở về và thưa chuyện với Thầy “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con.” Và rồi, Chúa Giêsu bảo với các môn đệ rằng: “Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống” Sau đó Chúa Giêsu đã ban cho các môn đệ quyền năng để các ông có thể đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù. Tất cả thế lực của Kẻ Thù bày ra nhưng sẽ không làm được gì các môn đệ cả. Chúa Giêsu còn dặn dò thêm: “Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi”.
 
Chúa Giêsu nhắc nhở cho các môn đệ rằng đừng mừng với cái chuyện quỷ thần khuất phục nhưng hãy vui mừng vì tên của các môn đệ, của những người theo Chúa sẽ được ghi ở Giêrusalem mới, ở Nước Trời. Niềm vui của Giêrusalem Thiên Quốc không giống như niềm vui của trần gian, của cuộc đời mà nhiều người tìm kiếm, theo đuổi. Niềm vui của Giêrusalem Thiên Quốc được ngôn sứ Isaia vừa nói qua bài đọc thứ nhất mà chúng ta vừa nghe:
 
Hãy vui mừng với Giê-ru-sa-lem,
 
hãy vì Thành Đô mà hoan hỷ,
 
hỡi tất cả những người yêu mến Thành Đô!
 
Hãy cùng Giêrusalem khấp khởi mừng,
 
hỡi tất cả những người đã than khóc Thành Đô,
 
để được Thành Đô cho hưởng trọn nguồn an ủi,
 
được thoả thích nếm mùi sung mãn vinh quang,
 
như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ.
 
Vì Đức Chúa phán như sau:
 
Này Ta tuôn đổ xuống Thành Đô ơn thái bình tựa dòng sông cả,
 
và Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ.
 
Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ,
 
được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối.
 
Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy;
 
tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi vỗ về.
 
Nhìn thấy thế, lòng các bạn sẽ đầy hoan lạc,
 
thân mình được tươi tốt như cỏ đồng xanh.
 
Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết,
 
và nổi cơn thịnh nộ với các kẻ thù.
 
Ở trong Giêrusalem Thiên Quốc, ở Thành Đô của Thiên Chúa thì những người yêu mến Thành Đô sẽ vui mừng, sẽ được bình an như trẻ thơ được bú no bầu sữa mẹ và sẽ được nâng niu trên đầu gối, được bồng ẵm bên hông như Mẹ hiền vậy. Khi ở Thành Đô thì những thù địch sẽ bị đẩy lui bởi cơn thịnh nộ của Đức Chúa.
 
Giêrusalem Thiên Quốc, Nước Trời luôn luôn nghịch lại với thế lực của ma quỷ, của thế gian, của sự ác để rồi những ai muốn vào Giêrusalem Thiên Quốc, muốn vào Nước Trời cũng phải sống như các môn đệ ngày xưa đã sống nghĩa là phải sống như chiên sống giữa sói rừng vậy. Thế nhưng, những ai tin tưởng và phó thác cuộc đời mình trong lòng bàn tay của Thiên Chúa thì tất cả những thế lực của ma quỷ sẽ không làm hại những người tin được. Kinh nghiệm ấy hết sức rõ ràng nơi cuộc đời của những người môn đệ thân tín, của các thánh nam nữ của Thiên Chúa, đặc biệt nơi các Thánh Tử Đạo của Thiên Chúa. Những môn đệ thân tín, các thánh nam nữ của Thiên Chúa, các Thánh Tử Đạo của Thiên Chúa đã bị thế gian cấu xé, nghiền nát nhưng rồi trước mặt Thiên Chúa, các Ngài đã sống hết mình, hết lòng, hết sức, hết trí khôn cho Nước Trời, cho Thành Đô của Thiên Chúa nơi Thiên Quốc.
 
Chuyện quan trọng của người môn đệ, của người theo Chúa Giêsu đó là làm sao tên của mình được ghi ở trên Trời. Tất cả mọi chuyện, tất cả mọi sự rồi sẽ qua đi mà thôi. Giữa cái lựa chọn Nước Trời và trần gian này không phải là đơn giản, nhiều và nhiều người muốn chạy theo cái thế gian này để bỏ cái vinh quang Nước Trời mà Thiên Chúa mời gọi.
 
Nguyện xin Thầy Chí Thánh ban thêm ơn, ban thêm sức mạnh và đặc biệt ban thêm quyền năng cho những ai tín thác vào Chúa để rồi nhờ ơn Chúa những người đó có thể chống chõi tất cả những mưu mô của các thần để sau cuộc chiến ở cõi đời này thì những người ấy được vào hưởng nhan Thánh Chúa và được vào hưởng Giêrusalem Thiên Quốc như Chúa đã hứa ban.
 
 
 

10. Ra đi loan báo Tin Mừng – An Phong
 
Tin Mừng Chúa Nhật 14 Thường Niên C là trình thuật Đức Giêsu gởi các môn đệ lên đường sứ vụ… Người sai họ đi như “con chiên ở giữa sói rừng…, đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép… nhưng nói bình an cho nhà này” (Lc 10,4). Người sai họ đi “cứ từng hai người”, vì theo luật Do Thái, chứng từ hợp pháp phải dựa trên hai hoặc ba nhân chứng (Đnl 19,15). Trong Giáo hội sơ khai, “cứ từng hai người” như Phaolô và Banaba (Cv 13,2), Banaba và Maccô (Cv 15,39), Phaolô và Sila (Cv 15,40), Timôthê và Sila (Cv 17,4)… đã đi rao giảng Tin mừng với nhau. “Nếu vào thành nào mà người ta không tiếp đón các con, thì… hãy phủi bụi đất lại…” là một lời cảnh giác cho những ai không đón nhận Tin mừng. Hình ảnh các môn đệ trở về vui mừng và “Satan từ trời rơi xuống như luồng chớp” muốn nói lên việc rao giảng Tin mừng được thành tựu và các ngài đã thắng được Satan.
 
Đức Giêsu đã đưa ra những điều kiện thiết yếu cho những ai muốn đi rao giảng Tin mừng “không túi tiền, không bao bị, giày dép”. Họ phải là những người nghèo khó, khiêm tốn, và thậm chí yếu đuối, để có khả năng tin tưởng và bám víu vào Thiên Chúa. Họ được sai đến những nơi nguy hiểm, thiếu an toàn, nhưng lại nói lời bình an. Cơn cám dỗ về tiện nghi vật chất luôn đe dọa những người đi rao giảng Tin mừng. Cơn cám dỗ về ngại khó vẫn luôn làm những người đi rao giảng Tin mừng chùn bước. Như thế, người đi rao giảng Tin mừng “đừng khoe khoang về điều gì khác, ngoại trừ về thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6.14).
 
Hơn thế nữa, “sự bình an của các con sẽ đến trên những ai đón nhận Tin mừng”. Người đi rao giảng Tin mừng là người có được sự bình an của Thiên Chúa. Từ đó đem sự bình an này đến cho người khác. Đem đến sự bình an của Thiên Chúa cùng với Nước Thiên Chúa đang đến gần chính là rao giảng Tin mừng. Mọi hình thức áp đặt, đe dọa, “rút phép thông công”, những cuộc thánh chiến… sẽ làm tiêu tan sự bình an. Bình an cho nhà này, cho ngôn ngữ, cho phong tục tập quán này, cho các truyền thống, các giá trị, các nghi thức phải là tâm niệm của những người đi rao giảng Tin mừng. Tin mừng cần được hội nhập, được sống trong một nền văn hóa của một dân tộc cụ thể, cùng với những phong tục tập quán, truyền thống của dân tộc đó. Tin mừng chỉ có thể được đón nhận trong tình yêu và tự do.
 
Là kitô hữu, nhờ bí tích Rửa tội và Thêm sức, chúng ta là những người rao giảng Tin mừng cho mọi người chung quanh. Chúng ta được Thiên Chúa gởi đến để đem lại bình an cho người khác. Những người chung quanh chúng ta sẽ dễ dàng đón nhận sứ điệp của chúng ta, nếu sứ điệp đó được loan báo cách vô vị lợi, nhẹ nhàng, trong tinh thần phục vụ. Chứng từ “cứ từng hai người” là hình ảnh yêu thương lẫn nhau, cộng tác với người khác, không ghen tương hay thành kiến, là một chứng từ mạnh mẽ, có giá trị làm cho Tin mừng dễ được đón nhận. Các kitô gữu đầu tiên tại Antiôkia đã từng gây ấn tượng tốt đẹp cho cư dân tại đó bằng nếp sống đoàn kết yêu thương nhau, khiến cư dân tại đó đã phải thốt lên “Kìa xem họ yêu thương nhau biết bao”. Vào thời bách hại đạo tại Việt Nam, cha ông chúng ta đã được những người chung quanh gọi là “những người theo đạo yêu nhau”. Những chứng từ như thế có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn là “văn hay chữ tốt”.
 
Khi phải đối diện với những bất an toàn của cuộc sống, chứng từ lòng tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa cũng là một lời rao giảng tốt đẹp.
 
Phải chăng chúng ta đang rao giảng Tin mừng của Đức Giêsu bằng chính đời sống yêu thương và phục vụ của mình?
 
Lạy Chúa,
 
ngày nay trên thế giới
 
còn nhiều người chưa đón nhận Tin mừng.
 
Chúng con xin Chúa gởi đến
 
những người rao giảng Tin mừng
 
đầy lòng yêu thương, nhiệt tâm tông đồ.
 
Xin cho chúng con trở nên những chứng nhân Tin mừng
 
bằng đời sống của mình.
 
 
 

11. Đoàn kết
 
“Bấy giờ Chúa Giêsu sai các ông đi, cứ từng hai người một”.
 
Ngày xưa, khi có dịp tiếp xúc với các vị giáo sư ngoại quốc, có lần tôi đã hỏi họ nghĩ gì về các sinh viên Việt Nam? Và họ đã trả lời:
 
– Nếu xét về phương diện làm việc cá nhân, một sinh viên Việt Nam thường giỏi hơn một sinh viên những nước khác. Thế nhưng, nếu xét về phương diện làm việc tập thể,  một nhóm sinh viên Việt Nam lại thua xa một nhóm sinh viên những nước khác.
 
Lời nhận xét này đã làm cho tôi suy nghĩ. Sở dĩ như vậy là vì sinh viên Việt Nam thiếu tinh thần cộng tác và đoàn kết với nhau.
 
Từ đó, chúng ta nhận thấy sự chia rẽ và phân hóa dường như là một căn bệnh đã thấm sậu vào đầu óc của người dân Việt Nam.
 
Đó cũng là điều dễ hiểu, bởi vì sống dưới những chế độ nô lệ khắc nghiệt, “ một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày”, người ta luôn nghi ngờ, không còn tin tưởng vào nhau và nhiều khi sự giả dối đã trở nên như một vũ khí tự vệ của kẻ yếu trước người mạnh. Phải luồn lách, phải khôn lỏi thì mới được sống còn.
 
Căn bệnh chia rẽ và thiếu cộng tác này đã xuất hiện trên nhiều lãnh vực.
 
Trước hết, trên lãnh vực quốc gia. Chúng ta không có được những công trình kiến trúc qui mô đòi hỏi một thời gian xây dựng lâu dài. Chúng ta cũng không có những công trình văn hóa đồ sộ, đòi phải có nhiều người cộng tác để cùng nghiên cứu và biên soạn chẳng hạn như một quyển bách khoa tự điển…Chúng ta có đoàn kết, thì mới chỉ đoàn kết trong chiến tranh, còn một khi hòa bình trở về, chúng ta lại chia rẽ trong việc xây dựng đất nước: nào nam bắc, nào già trẻ, nào bè phái và phe nhóm…
 
Tiếp đến, trên lãnh vực xã hội. Chúng ta cũng thiếu tin tưởng và cộng tác với nhau. Một công ty, một xí nghiệp mới được thành lập thật tốt đẹp, nhưng rồi chỉ một thời gian sau liền sụp đổ không kèn không trống, chỉ vì người ta đã gian lận, đã chấm mút, đã biển thủ công quỹ..
 
Riêng trong phạm vi tôn giáo, chúng ta cũng ghi nhận được những mầm mống chia rẽ và phân hóa. Tôi xin lấy một thí dụ cụ thể là chính giáo xứ của chúng ta. Ôn lại lịch sử  từ khi thành lập cho đến nay, chúng ta phải chua xót mà nhận ra rằng đã có những biến cố không mấy tốt đẹp xảy ra: nào địa phận nọ và địa phận kia, nào vùng này vùng khác…
 
Sự chia rẽ và phân hóa cũng có mặt trong chính gia đình, một cộng đồng tình yêu vừa nhỏ bé lại vừa lý tưởng nhất, để rồi đã xảy ra những cãi vã, những đánh đập, như tục ngữ đã bảo:
 
– Chồng giận, vợ giận thì dùi nó quăng.
 
Từ những sự kiện ấy, chúng ta đi vào chủ đích của Chúa Giêsu khi Ngài sai phái các môn đệ cứ từng hai người một, là để các ông hiệp lực và cộng tác với nhau.
 
Vậy sự cộng tác sẽ đem lại những hậu quả nào?
 
Trước hết, đó là sự sáng suốt.
 
Thực vậy,  có một câu danh ngôn đã bảo:
 
– Hai cái đầu thì bao giờ cũng hơn một cái đầu.
 
Cái nhìn của người trong cuộc thường chủ quan và phiến diện, nhưng cái nhìn của người ngoài cuộc sẽ vô tư và khách quan hơn, như tục ngữ cũng đã bảo:
 
– Việc người thì sáng, việc mình thì quáng.
 
Tiếp đến, đó là sức mạnh.
 
Thực vậy, tục ngữ Việt Nam đã bảo:
 
– Một cây làm chẳng nên non,
 
  Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
 
– Hợp quần gạy sức mạnh.
 
Tự sức riêng, có nhiều việc chúng ta không thể nào làm nổi vì thiếu phương tiện, thiếu khả năng…Nhưng nếu được nhiều người cộng tác, chắc chắn công việc sẽ tiến triển một cách mau chóng và đem lại những thành quả tốt đẹp, như một câu danh ngôn đã xác quyết:
 
– Chim có đàn cùng hót, tiếng hót mới hay.
 
Hơn thế nữa, thân phận của người tông đồ là thân phận của một con chiên giữa bày lang sói, nếu biết cộng tác với nhau, chúng ta sẽ dễ dàng vượt qua những khó khăn và thử thách. Bẻ một chiếc đũa thì dễ, chứ bẻ cả một bó đũa thì rất khó.
 
Sau cùng, đó là sự an ủi khích lệ trong những lúc mệt mỏi và chán nản, đồng thời nhờ kinh nghiệm của người khác, chúng ta sẽ dễ dàng tiếp thu những cái hay cái đẹp.
 
Thực vậy, tục ngữ cũng cho hay:
 
– Học thày không tày học bạn.
 
Nhờ tinh thần ganh đua, chúng ta sẽ tiến mau và tiến mạnh, bởi vì:
 
– Thua trời một vạn, không bằng thua bạn một ly.
 
Hay như thánh Augustinô cũng đã nói:
 
– Ông nọ bà kia nên thánh được, còn tôi tại sao lại không?
 
Ngoài ra, nhờ tình yêu thương trong sự cộng tác chân thành, chúng ta sẽ dễ  đem Chúa đến cho người khác, bởi vì lúc bấy giờ họ sẽ nhận ra sự hiện diện của Chúa nơi mỗi chúng ta.
 
Và như vậy, chính sự đoàn kết và cộng tác  sẽ là phương tiện đem lại hậu quả tốt cho việc tông  đồ:
 
– Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thày, là các con yêu thương nhau.
 
Hơn bao giờ hết, tình thương và sự cộng tác là điều kiện cần thiết cho người tông đồ hôm nay, bởi vì:
 
– Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết.
 
 
 

12. Bình an – Lm. GB. Trần Văn Hào
 
Quà tặng của các môn đệ Đức Giêsu trong hành trình truyền giáo.
 
Bình an chính là ân ban của Thần Khí, là quà tặng ý nghĩa nhất mà Đức Giêsu đem đến cho các Tông Đồ trong ngày Phục sinh. Giáo hội hằng ngày vẫn dâng lên Chúa lời cầu nguyện xin ơn bình an mỗi khi cử hành Thánh lễ. Cả ba bài đọc Lời Chúa hôm nay cũng nói về sự bình an, là ân ban Thiên Chúa đem đến cho nhân loại trong thời kỳ thiên sai (bài đọc 1), là món quà mà Thánh Phaolô đã trải nghiệm cùng với Lòng Thương xót Chúa (bài đọc 2), và cũng là hành trang các Tông đồ đem theo trong hành trình truyền giáo (bài Tin mừng).
 
Ơn Bình an được ban tặng như thế nào?
 
Trong bài đọc thứ nhất, ngôn sứ Isaia tiên báo rằng, ơn ‘thái bình’ được tuôn đổ xuống thành đô Giêrusalem tựa dòng sông cả (Is 66,10-14). Vị ngôn sứ phóng tầm nhìn về kỷ nguyên mới, lúc Đức Chúa Giavê thực hiện ơn cứu độ một cách sung mãn. “Này Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ. Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, được nâng niu trên đầu gối”. Đây là thời thiên sai, lúc Đức Chúa biểu dương quyền lực và tình thương của Ngài. Trong cái nhìn thần học, ơn bình an này không chỉ khép kín trong ý niệm về một thế giới im tiếng súng, vắng tiếng đạn, nhưng bình an mà Thiên Chúa ban tặng chính là đỉnh cao của ân phúc khi Thiên Chúa ra tay cứu độ dân Ngài. Cũng tương tự như thế, Thánh Phaolô cầu chúc cho cộng đoàn Galát được hưởng sự bình an và lòng thương xót Chúa. Ngài mang kinh nghiệm của chính bản thân để mời gọi cộng đoàn đón nhận ơn bình an này, đó là phải kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu trong mầu nhiệm Thập giá. “Nhờ Thập giá của Đức Giêsu, thế gian đã bị đóng đinh vào Thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian.Vì tôi mang trong mình dấu tích của Đức Giêsu”. Như vậy trong thời kỳ ân điển của Thần Khí, Đức Giêsu đấng bị đóng đinh đã sống lại, sẽ phủ lên thế giới này ngập tràn sự bình an, là quà tặng cao quý nhất mà Thiên Chúa đem đến nhờ Thánh Thần. Thánh Phaolô còn nói rõ hơn trong thư gửi giáo đoàn Rôma: “Hướng đi của Thần khí là sự sống và bình an (Rm 8,66).
 
Như thế, chúng ta phải hiểu ơn bình an mà phụng vụ hôm nay nói tới trong cái nhìn Kitô học. Đây là quà tặng gắn kết với mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh mà Thánh Phaolô nhắc đi nhắc lại khá nhiều lần. Sau khi Đức Giêsu sống lại, Ngài hiện ra với các tông đồ, cho thấy các dấu tích cuộc tử nạn nơi thân thể Ngài. Sau đó, Chúa thổi hơi tuôn đổ Thần khí và ban bình an cho các ông (Ga, 20,22; Mt 28,16-20).
 
Cũng vậy, trong bài Tin mừng hôm nay, Thánh Luca thuật lại việc Chúa Giêsu sai 72 môn đệ đi thực tập truyền giáo. Ngài dặn các ông: “Khi vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: Bình an cho nhà này. Nếu ở đó có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy, bằng không thì bình an sẽ trở lại với anh em (Lc 10,5-6).
 
Như vậy, bình an trước hết là quà tặng đến từ Thiên Chúa và ơn bình an được ban xuống luôn kèm theo những điều kiện cần thiết.
 
Điều kiện để hưởng bình an.
 
Sống trong một thế giới mà chiến tranh lúc nào cũng như sắp sửa xảy ra, người ta cảm thấy lo sợ. Vì thế, sau đệ nhị thế chiến, các quốc gia trên khắp thế giới phải ngồi lại để bàn thảo những phương thế cổ xúy cho hòa bình. Tổ chức Liên Hợp Quốc được hình thành từ đó và 6 quốc gia được bầu chọn làm “Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc”. Trong phiên họp đầu tiên, ông Krouchev, tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô đã sừng sỏ chỉ tay vào vị đại diện Tòa Thánh tại bàn hội nghị và sẵng giọng nói: “Giáo Hoàng của các ông có trong tay bao nhiêu sư đoàn, mà dám cho người đại diện đến đây để bàn về hòa bình với chúng tôi”.
 
Người ta vẫn thường nghĩ rằng, bình an là một món hàng có thể sắm bằng sức mạnh quân sự, mua bằng đô-la hay dầu hỏa. Nhưng đối với Đức Giêsu thì không phải vậy. Hòa bình hay bình an đích thực chỉ có được khi chúng ta biết sống theo hướng đi của Thần khí. Đó là Thần Khí của Chân lý, của Sự thật, không có gian dối hay lừa lọc, không có bạo lực hay giết chóc, không oán thù hay ghét ghen. Vì vậy, để huấn luyện các môn đệ, Ngài sai các ông đi thực tập truyền giáo với quà tặng bình an. Quà tặng này đi kèm theo điều kiện là ‘không mang theo túi tiền, bao bị hay giày dép…’, tức là sống tinh thần nghèo khó một cách triệt để. Chúng ta vẫn thường hát lên ‘Kinh hòa bình’, lời kinh của Thánh Phanxicô Assisi, sứ giả của bình an, và Ngài cũng là khuôn mẫu cho chúng ta về tinh thần nghèo khó phúc âm.
 
Kết luận
 
Khi Chúa Giêsu giáng sinh, các Thiên Thần ca hát vang trời: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Những người thiện tâm và hưởng nhận ơn bình an đầu tiên ấy chính là các mục đồng, những đứa trẻ chăn trâu ngoài đồng nghèo xơ nghèo xác, những con người thấp kém và bị quên lãng trong xã hội thời bấy giờ. Cũng vậy, Chúa sai các môn đệ đi truyền giáo để ban bình an, đồng thời Ngài đòi hỏi các ông phải sống thật thanh thoát trong tinh thần khó nghèo, cắt đứt mọi dính bén trần thế. Điều Chúa đòi hỏi cũng là thách đố đối với chúng ta hôm nay, khi đang sống giữa một thế giới duy vật, thượng tôn chủ nghĩa hưởng thụ và chạy theo của cải vật chất. Còn chúng ta, chúng ta chọn cuộc sống phú túc giàu sang hay chọn bình an mà Thiên Chúa ban tặng?
 
 
 

13. Vô nghĩa – Lm Vũ Đình Tường
 
Vô nghĩa diễn tả tình trạng nghe mà không hiểu hay nghe vào tai này chạy tuốt qua tai kia, để lại trong ta cõi trống. Câu nói khơi lên trong ta một chút gì dù là vui buồn, sướng khổ hay lo lắng đều là những câu nói có nghĩa bởi vì chúng khơi lại trong ta ít nhiều tình cảm sâu thẳm trong lòng. Ngôn ngữ con người tự nó không có sức mạnh khơi dậy tình cảm trong ta. Nó chỉ có tác dụng khi ta nghe chúng với tâm tình lắng nghe, muốn nghe. Trong trường hợp đó ngôn ngữ có sức mạnh khơi dậy, khích động lòng người. Trái với ngôn ngữ con người Lời Chúa tự Lời Ngài có sức mạnh bởi Lời Chúa luôn kèm theo sức mạnh của Thánh Thần nên tự Lời Chúa có sức mạnh. Hơn nữa lời Chúa có sức tạo dựng. Lời Ngài phán ra tạo nên đất trời. Vì thế đất trời đều lệ thuộc vào Lời Ngài để tồn tại. Chúng tồn tại vì do Lời Chúa ban sức sống, cầm giữ và ban cho chúng ơn tái tạo được hiểu là biến hoá trong vũ trụ đất trời.
 
Lời Ngài có khả năng thay đổi tuỳ theo vật Ngài sáng tạo. Lời Ngài khoả đầy vũ trụ và di chuyển cùng tốc độ nở bành trướng của vũ trụ hay Lời Ngày thu nhỏ, kiên nhẫn đợi chờ cho con tim đóng kín mở ra đón Ngài vào tim. Chúng ta bị lệ thuộc vào thời gian và không gian nhưng Lời Ngài hoàn toàn không bị điều kiện thời gian, không gian kìm chế.
 
Khi con tim đóng kín không đón nhận Lời Ngài không phải vì Lời không có sức mạnh tiến vào nhưng là Lời tôn trọng quyết định, cảm xúc trong ta, không cưỡng bách, thúc ép ta miễn cưỡng đón nhận Lời Ngài. Khi sai 72 môn đệ đi rao giảng Đức Kitô đã hướng dẫn các môn đệ là khi vào nhà nào, thành nào nếu người ta đón tiếp thì hãy cư ngụ tại đó, nếu không thì hãy âm thầm ra đi và bình an của Lời Ngài cũng sẽ ra đi Lc 10,6.
 
Điều này cho thấy Lời Ngài có sức mạnh đến người không cản được, đi người không thể cầm giữ. Lời Ngài tự do, tự tại đến đi tuỳ theo mức độ cởi mở, đón nhận của con tim người nhận. Con tim rộng mở đón nhận ơn bình an; con tim đóng chặt, khép kín mất bình an nội tâm.
 
Trong trường hợp con tim khép kín thì tâm tình của người mang Lời Chúa đóng một phần quan trọng trong việc hoán cải con tim khô cằn, sỏi đá. Tâm tình đó là tâm tình của người môn đệ đặt hết tin tưởng vào Lời Chúa. Chính xác tín này thể hiện qua lời nói, việc làm của họ làm cho con tim khô cằn, sỏi đá được thảnh thơi và từ từ mở ra đón nhận Lời Ngài. Người môn đệ chân thành là người môn đệ ít nhiều có cảm nghiệm về sức mạnh Lời Ngài mang lại trong tâm hồn họ, đóng dấu ấn tín yêu thương trong lòng khiến họ rao giảng mà không nghi ngại, gặp trở ngại không sờn lòng, thất bại không nản chí, đau khổ không chùn bước, thành công không kiêu căng. Chính thái độ khiêm tốn, kiên nhẫn và nhẫn nhục giúp con tim khô cằn tìm thấy nguồn nước. Con tim đóng kín hé mở đón Lời Ngài. Một tâm hồn hay tấm lòng thay đổi nhờ vào Lời Ngài được thánh Phao lô diễn tả trong bài đọc thứ hai là con người mới, tạo vật mới. Tạo vật mới này có được là do Lời Ngài biến đổi, thánh hoá và ban cho sự sống mới. Tạo vật mới được nuôi dưỡng bằng Thần Khí và ơn an bình thiên quốc.
 
 
 

14. Bình an đích thực
 
Luca là thánh sử duy nhất kể lại cho ta về sứ mạng của 72 môn đệ. Những môn đệ này được sai đi từng hai người một, vì lời chứng của hai người là lời chứng thật. Chắc khi đi rao giảng các môn đệ cũng sẽ gặp nhiều trắc trở, nhưng sự vất vả không chuẩn miễn cho các ông khỏi những khó khăn và nguy hiểm. Các ông như chiên lành tay không trước mặt sói rừng. Dẫu vậy những người được Chúa sai đi và làm công việc do Chúa chỉ định, phải tuyệt đối tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Không mang theo tiền, lương thực hay đồ dùng cá nhân kềng càng, họ phải tiến thẳng đến mục đích chứ đừng dừng lại dọc đường mà chuyện vãn bàn tính mất thời giờ với những người qua đường. Nói khác đi, họ chỉ có một điều quan tâm là rao giảng Lời Chúa cho mọi người, một thành, một làng, một nhà mà họ được sai đến và làm việc tại đó.
 
Công việc trước hết phải làm khi vừa bước chân tới là chúc bình an cho người ta, vì bình an vốn là dấu chỉ và bằng chứng của ơn cứu độ, của việc Chúa đến nếu xứng đáng họ sẽ được lãnh nhận. Sự bình an nói đây là sự bình an của ơn cứu độ, kết quả sự can thiệp đặc biệt của Chúa, nên cũng gọi là sự bình an của Nước Thiên Chúa. Bởi thế, đây chính là điều phụng vụ muốn dùng tới khi chọn đọc bài phúc âm này, vừa nói đến Đức Kitô đã đem đến sự bình an, một thứ bình mà thế giới không thể ban được, vừa nói lên sứ mạng của Hội Thánh là tiếp tục đem đến cho nhân loại sự bình an của Chúa.
 
Ngoài ra Đức Giêsu cũng khuyên các ông hãy đón nhận cách đơn sơ, giản di nơi ở cũng như lương thực mà người ta cung cấp nơi mình, không phải lo đến việc trả các phí tổn bằng tiền, mà chỉ lo trả bằng công tác của mình thôi. Ngoài ra cũng phải tránh những vấn đề làm cho người ta khó chịu như về lương thực hoặc tiện nghi. Nhưng phải biết bắt chước Chúa sẵn sàng chữa lành những bệnh nhân tật nguyền cho người ta một cách miễn phí. Vì đây cũng là dấu chỉ của thời thiên sai như Isaia đã loan báo.Và sau cùng nếu bị người ta sua đuổi thì cũng phải loan báo Nước Trời đã đến gần, và nói thẳng cho họ biết rằng họ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự từ chối đó. Cũng nến để tất cả những gì thuộc về họ, cho dù là bụi đết dính chân cũng để lại để cảnh cáo họ.
 
Chỉ sau một thời gian ngắn, công việc rao giảng của các môn đệ hiển nhiên được thành công một cách đáng kể, và các ông đã hân hoan trở về bên Chúa Giêsu. Họ vui mừng hãnh diện vì làm tốt công việc được trao phó: rao giảng tin mừng, chữa bệnh tật. Tuy nhiên điều vượt quá sự mong mỏi của các ông là đã sua đuổi được ma qủy. Vì thế, các ông rất lấy làm hạnh phúc về việc đó cách rõ rệt nhưng cũng khá ngây ngô.
 
Chúa Giêsu muốn làm cho họ phải chưng hửng, Ngài chỉ muốn so sánh “chiến thắng” của họ với ánh chớp lóe lên từ trời xuống đất. Ngài cũng nói thêm về quyền năng mà Ngài đã ban cho họ trên Satan và các thứ thù địch sẽ được biểu lộ qua việc dẫn trên rắn rết mà chẳng hề hấn gì. Tuy nhiên Đức Giêsu muốn đưa họ đến một quan điểm đúng đắn là hạnh phúc đích thực không phải ở chỗ thắng ma qủy hay ở chỗ làm lụng vất vả rồi thành công, mà hệ tại ở chỗ chắc chắn mình được cứu rỗi: “hãy vui mừng vì tên các người đã được ghi trên trời”. Quả thực đây mới chính là điều đem lại cho chúng ta sự bình an thực sự và vững bền không ai lấy mất được.
 
Sự bình an chân thật, sự bình an trong tâm hồn là của riêng những con người sống trong tình yêu của Chúa, sống trong tương giao mật thiết với Chúa và hoàn toàn vâng phục Ngài. Tội lỗi đã làm con người mất đi sự bình an đó, vì nó làm cho con người trở nên thù nghịch cùng Thiên Chúa. Chỉ có Thiên Chúa mới trả cho chúng ta sự bình an đã mất, vì chỉ mình Ngài có quyền tha thứ tội lỗi cho chúng ta. Vì thế muốn lấy lại được sự bình an phải đến với Đức Kitô, tuyệt đối tin tưởng vào Đức Kitô, tham dự vào mầu nhiệm thập giá của Ngài. Ngoài ra không có con đường cứu độ nào khác.
 
Nhờ Bí Tích Thánh Thể được cử hành, một bí tích mà Đức Giêsu đã thiết lập làm giao ước muôn đời cho hội thánh, chúng ta được phúc hiện tại hóa mầu nhiệm thập giá, tham dự vào hy tế đền tội với tất cả tham dự phong phú của nó. Chúng ta hãy tham dự vào cách ý thức tích cực và tron vẹn để chúng ta được bình an trong Đức Kitô, và chúng ta không quên cảm ta lòng thương xót bao la của Ngài.
 
Lạy Chúa, xin cho con nhận ra chỉ khi nào con ở trong và ở bên Đức Giêsu con mới tìm được sự bình an đích, và cũng cho con luôn nhận ra sứ mạng của mỗi người Kitô hữu là đem bình an Tin Mừng đến cho người khác. Amen.
 
 
 

15. Chúa sai tôi đi – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
 
Theo tường thuật của Thánh Luca, Chúa Giêsu đã sai đi rao giảng không phải chỉ nhóm 12 tông đồ mà còn cả nhóm 72 môn đệ nữa. Luca muốn nhấn mạnh rằng không riêng gì các tông đồ, mà tất cả mọi người đều được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng. Ngài cũng sai “từng nhóm hai người” như ngầm ngụ ý: việc loan Tin mừng không phải là việc của một cá nhân riêng lẻ, mà là việc của cộng đoàn, không phải là độc quyền của riêng ai, nhưng phải liên đới và liên kết với nhiều người khác.
 
Nhưng trên hết, trình thuật hôm nay nhắm đến 3 công việc mà người truyền giáo phải biết, đó là:
 
Cầu nguyện: cầu nguyện cho Hội Thánh có nhiều thợ lành nghề theo như lòng Chúa mong muốn.
 
Sống thanh thoát với của cải: vì cái mà người truyền giáo cần có là ơn Chúa chứ không phải là những phương tiện vật chất (túi tiền, bao bị, giày dép…)
 
“Chữa lành các bệnh tật”; Đây là việc làm chính của người truyền giáo. Người truyền giáo phải là người làm giảm bớt đi những đau khổ tinh thần và vật chất nơi tha nhân.
 
Nhưng xem ra lối sống của người tín hữu hôm nay chỉ nhắm đến việc giữ đạo, sống đạo mà ít quan tâm đến việc truyền giáo. Có mấy ai đã cầu nguyện cho việc truyền giáo? Có mấy ai đã biểu lộ việc truyền giáo bằng việc sống thanh thoát với của cải trần gian và xoa dị nỗi đau cho anh em?
 
Thành thực mà nói cũng có, nhưng rất ít. Có khi chỉ là một cánh én đơn độc nên vẫn chưa mang lại mùa xuân truyền giáo cho Giáo hội. Ngay cả các sứ giả hôm nay cũng được sai đi nhưng cũng chỉ là để đến với tín hữu, đến với những cộng đoàn có đạo để củng cố niềm tin cho họ, và dường như Giáo hội Việt Nam vẫn chưa có một linh mục được sai đi chỉ để loan báo tin mừng cho dân ngoại. Chính vì thế, rất nhiều linh mục đến với những vùng hẻo lánh, các ngài lại chú trọng việc xây cất cho bằng chị bằng em, nhưng lại thiếu thời giờ để đến với lương dân.
 
Có lẽ, chính vì thế từ người giáo dân đến linh mục đều chú trọng việc sống đạo nhưng không có sáng kiến mục vụ để thu hút người ngoại đạo, kể chi đến việc mang tin mừng đến cho anh em lương dân. Giáo hội đã quá chú trọng đào tạo nhân sự từ linh mục, tu sĩ, tông đồ giáo dân nhưng đều được tung vào vườn nho để quản lý vườn nho mà không được mang đến cánh đồng truyền giáo bát ngát. Giáo hội cũng tốn kém rất nhiều tiền bạc vào việc đào tạo nhân sự nhưng lại không bao giờ tặng anh em lương dân một tấm hình đạo, một quyển phúc âm… như là một hình thức giới thiệu đạo Chúa cho anh em. Dường như các chủ chăn chỉ loay hoay gìn giữ các con chiên và cũng chẳng mấy khi đi tìm kiếm con chiên lạc trở về, và có lẽ khó mà có thời giờ đến với muôn dân không thuộc đàn chiên của mình.
 
Hôm vừa rồi, có một cán bộ tôn giáo nói với tôi: “Nếu giáo hội Công giáo không quan tâm đủ đến người dân tộc thiểu số ở trong xứ đạo, coi chừng họ theo Tin Lành hết”. Được biết người tín hữu tin lành họ rất quan tâm đến anh em lương dân của họ. Họ luôn tìm cách tiếp cận và giới thiệu tin mừng cho anh em lương dân. Họ coi đây là việc làm hàng đầu của người tín hữu. Họ không quan trọng việc đi lễ hay các bí tích, nhưng điều quan yếu của họ là làm sao tin mừng đến được với muôn dân.
 
Giáo hội vẫn nói sứ mạng hàng đầu của Giáo hội là truyền giáo, nhưng xem ra hành vi truyền giáo vẫn chưa cụ thể, vẫn chung chung… Chúa Giêsu không gọi chung chung, Ngài cũng không sai đi chung chung, nhưng Ngài gọi từng người một và sai đi. Ngài sai đi không phải đến một làng, một vùng mà đến các vùng lân cận để rao giảng. Xem ra Giáo hội là truyền giáo nhưng lại thiếu những con người có thể đi đến với những làng lân cận mà rao giảng Nước Thiên Chúa như 72 môn đệ. Không có cuộc ra đi. Không có mùa gặt hái. Không có mùa bội thu. Giáo hội vẫn là thiểu số giữa muôn dân, muôn sắc tộc.
 
Hôm nay không phải là ngày Khánh Nhật Truyền Giáo nhưng lời Chúa vẫn vang vọng bên tai chúng ta: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít”. Lời Chúa vẫn nhắc nhở chúng ta về sứ vụ truyền giáo của Giáo hội, của chúng ta là thành viên của Giáo Hội. Chúa Giêsu vẫn tiếp tục sai chúng ta ra đi gặt lúa của Người. Chúa Giêsu vẫn tha thiết kêu mời chúng ta hãy cầu nguyện cho Giáo hội có thêm thợ lành nghề. Chúa Giêsu vẫn mời gọi chúng ta hãy ra khỏi chính mình để đến với những kẻ bất hạnh lầm than, để xoa dịu nỗi đau cho nhân thế.
 
Ước gì đời ky-tô hữu chúng ta luôn là một đời truyền giáo bằng gương lành bác ái, bằng lời nói về Chúa cho tha nhân. Xin cho chúng ta luôn thao thức về cánh đồng truyền giáo đang chính vàng, nếu không nhanh tay thì chim trời sẽ ăn hết. Thế nên, mỗi người chúng ta cần thể hiện tinh thần truyền giáo của mình cách cụ thể quá lời nói và việc làm của mình. Amen.
 
 
 

16. Chứng nhân Nước Trời
 
(Suy niệm của Lm. Trọng Thưởng, CRM)
 
Một mục sư Tin lành mới đến nhậm chức tại giáo xứ. Sau buổi lễ sáng Chúa Nhật, mục sư đứng cuối nhà thờ để chào đón giáo dân. Nhiều người lần lượt xếp hàng đứng bắt tay. Đa số đều rộng lượng bày tỏ những lời khen khuyến khích, chỉ trừ có một người nói rằng: “Bài giảng của mục sư nghe thật nhàm chán và buồn ngủ!” Một lúc sau người ấy lại xếp hàng bắt tay và nói: “Tôi nghĩ rằng mục sư đã không để giờ chuẩn bị bài giảng.” Sau đó người kia lại xuất hiện trước mặt mục sư và nói: “Lần này mục sư thật sự làm hỏng chuyện rồi. Ông thật sự chẳng có gì để nói cả.” Vị mục sư không chịu nổi nữa, liền đến một cụ sáu hỏi về con người kỳ cục kia. Cụ sáu nói rằng: “Đừng để tâm đến ông ta. Ông ấy chậm chạp, không có suy nghĩ. Ông ta chỉ lặp lại những điều người khác mớm cho thôi.”
 
Khi đi rao giảng, làm sao cho người nghe nhận được sứ điệp là điều quan trọng. Trong bài Phúc âm hôm nay Chúa Kitô chọn 72 môn đệ và sai họ đi rao giảng rằng: “Nước Trời đã gần đến.” Chúa không muốn các môn đệ chỉ như những con vẹt, lặp lại những gì Ngài chỉ dạy, nhưng muốn các ngài phải sống sứ điệp mình rao giảng, trở nên một người rao giảng Tin Mừng thật sự. Người rao giảng Nước Trời phải là người siêu thoát với mọi ràng buộc của trần gian. Nếu người môn đệ của Chúa rêu rao trên miệng nhiều điều tốt đẹp về nước trời, nhưng trên mình mặc quần áo xa hoa lộng lẫy, đeo lủng củng các thứ dây vàng, nhẫn vàng, với mọi thứ của cải sang trọng khác, ai có thể tin vào Nước Trời do lối sống như thế? Hoặc một người cũng môi miệng đó rêu rao chiêu bài bác ái, xây dựng, nhưng mặt khác lại đi chửi bới thoá mạ người khác. Làm sao có thể tin vào loại người như thế? Làm sao có thể tin rằng người đó không trở mặt chửi bới những người thân quen chung quanh?
 
Vì thế Chúa đã truyền cho các môn đệ khi đi rao giảng phải sống tinh thần khó nghèo, siêu thoát khỏi mọi ràng buộc, tham vọng trần gian, để có thể hướng lòng mình cũng như người nghe về Nước Trời. Kết quả của cuộc sống ly thoát mọi ràng buộc là sự bình an đích thực, mà người môn đệ nắm chắc trong tâm hồn và thông ban bình an cho những người chung quanh.
 
Sứ mạng rao giảng Tin Mừng Chúa đã trao ban cho 72 môn đệ và còn tiếp tục trao ban cho mỗi người Kitô hữu. Chúng ta hãy rao giảng bằng lời nói khi có thể, nhưng trên hết đời sống mỗi người phải là lời giảng hùng hồn nhất. Hãy siêu thoát khỏi những tham vọng của cải, quyền lực, lợi lộc cá nhân, bè phái” đó là những ràng buộc của trần gian khiến người Kitô hữu không thể là chứng nhân đích thực cho Nước Trời. Hãy một lòng xây dựng cho nước trời bằng tấm lòng ngay chính, không bè phái, không chia rẽ, không đối lập” hãy sẵn sàng hy sinh quên mình, dẹp bỏ ích kỷ cá nhân để đóng góp cho cộng đoàn, giáo xứ, cho Giáo Hội.
 
 
 

17. Bình an chân thật – Lm. Minh Vận, CRM
 
Helen Keller, một cô gái vừa mù, vừa câm, lại vừa điếc. Giác quan duy nhất còn lại để cô có thể tiếp xúc với thế giới bên ngoài là dùng tay mà sờ. Thế mà cô đã cố gắng đi học, kiên trì trong gian khổ… Nhờ sự nhẫn nại chuyên cần, cô đã đạt được một thành quả rất khả quan, đó là cô đã đoạt được văn bằng tiến sĩ. Một hôm, cô được người ta hỏi rằng, nếu chỉ được mộng ước một điều thôi, thì cô sẽ mộng ước điều gì? Trong khi chờ đợi cô trả lời, ai cũng nghĩ rằng: Cô sẽ ước ao được sáng mắt để chiêm ngắm vẻ kỳ diệu của cảnh thiên nhiên; được khỏi điếc để có thể thưởng thức những thanh âm của muôn loài và những khúc ca du dương trầm bổng của các ca sĩ trứ danh? Thực là bất ngờ, cô đã trả lời ngược hẳn lại ý nghĩ của mọi người. Cô nói: “Tôi ước ao cho thế giới được hưởng hòa bình”.
 
  1. BÌNH AN LÀ KHÁT VỌNG CỦA MỌI NGƯỜI
  2.  
Câu trả lời của cô Helen chứng tỏ cô có một tâm hồn cao cả, đã được thấm nhuần tinh thần của Chúa Kitô và chia sẻ lòng khát khao của Người, như chính Người đã phán với các Môn Đệ trong giáo huấn Lời Chúa hôm nay, khi sai các ông đi truyền bá Tin Mừng cho muôn dân: “Khi vào nhà nào thì các con hãy cầu chúc: “Bình an cho nhà này!”.
 
Mỗi người chúng ta khi lãnh Bí Tích Thánh Tẩy, trở nên con cái Chúa, đều được Chúa ủy thác sứ mạng truyền bá Tin Mừng Cứu Độ cho muôn người; hay nói cách khác, tất cả chúng ta đều có nhiệm vụ được Chúa sai đi đem sự bình an, lòng nhân từ thương mến, niềm an vui hạnh phúc của Chúa đến cho mọi người.
 
Trong một thế giới đầy hận thù, chém giết và tràn ngập những thương luân bại lý ngày nay, sứ mạng Chúa ủy thác cho chúng ta, càng trở nên khẩn thiết và cấp bách hơn bao giờ hết. Nhưng có thể chu toàn sứ mạng đem sự bình an của Chúa đến cho mọi người thế nào được, khi tâm hồn chúng ta chưa có sự bình an, chưa được hưởng tràn đầy ơn an bình hạnh phúc chân thật của Chúa, để có thể chia sẻ, thông ban, trao tặng cho tha nhân?
 
  1. ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC BÌNH AN THẬT
  2.  
Sau khi Chúa Kitô sống lại từ cõi chết, mỗi lần hiện ra với các Môn Đệ, Chúa đều cầu chúc: “Bình an cho các con!” Điều đó chứng tỏ lòng Chúa khát khao cho chúng ta được hưởng bình an hạnh phúc chân thật của Chúa. Nhưng sự bình an Chúa muốn ban tặng chúng ta, không phải chỉ là sự bình an tạm bợ của trần gian. Vì bình an chân thật của Chúa bắt nguồn từ nội tâm con người, không phải chỉ là sự bình an có cái nhãn hiệu bên ngoài: Không súng đạn chiến tranh, không võ khí nguyên tử và những hòa ước trên giấy tờ.
 
Chính Chúa đã nhiều lần quả quyết: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con, Thầy không ban thứ bình an như thế gian ban tặng; lòng các con đừng bối rối sợ sệt”.
 
Sự bình an chân thật của Chúa muốn ban tặng chúng ta là gì? Đó chính là sự bình an tâm hồn. Sự bình an này chính các Thần Trời đã ca lên trong đêm Chúa Giáng Sinh: “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”.
 
Mọi người trên trần gian, ai ai cũng khát khao hòa bình, các chính phủ, các nhà lãnh đạo các quốc gia, các chính khách đều cổ võ và vận động cho các cuộc hòa giải được thành sự, kêu gọi chấm dứt chiến tranh để tái lập hòa bình cho các dân tộc… Nhưng tại sao hòa bình vốn còn là viễn tượng mơ hồ. Chính là vì lòng con người còn đầy tham vọng, đầy tranh dành, đầy hận thù, đầy nghi kỵ lẫn nhau… Ai cũng chỉ muốn vượt trên người khác, hạ bệ đối phương, chiến thắng kẻ thù…
 
Nhưng hòa bình chân thật của Chúa chỉ được ban tặng cho những ai thành tâm thiện chí, giầu lòng yêu thương, đầy tình tương thân tương ái, luôn biết an ủi người sầu khổ, biết thông cảm chia sẻ niềm an vui hạnh phúc với tha nhân, khích lệ người nản chí ngã lòng, chỉ muốn làm ơn và sống hào hiệp với mọi người.
 
Là con cái Chúa, Chúa muốn chúng ta cảm nghiệm được sự bình an chân thật của Chúa, tức là tâm hồn không bị nô lệ tội lỗi và những tham vọng trần thế, để có thể tận hưởng niềm an vui hạnh phúc của con cái Chúa, sống trong ơn nghĩa với Người. Không những thế, Chúa còn ủy thác cho chúng ta sứ mạng đem sự bình an, tình yêu thương hạnh phúc của Chúa đến cho mọi người. Đó là một vinh hạnh, một phúc lành Chúa dành cho mỗi người chúng ta, như lời Chúa đã chúc phúc: “Phúc cho những ai biết xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con cái Thiên Chúa” (Mt 5:9).
 
III. ÁP DỤNG TRONG ĐỜI SỐNG
 
Trong khi cử hành Thánh Lễ hằng ngày, Giáo Hội muốn các vị Chủ Tế chúc lành cho những người tham dự bằng lời cầu chúc: “Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em!”; đồng thời, Chủ Tế cũng kêu gọi mọi người chia sẻ bình an của Chúa cho nhau bằng lời: “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau!”
 
Xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta cùng có một khát vọng như Thánh Phanxicô Khó Khăn trong “Kinh Hòa Bình” mà chúng ta sẽ cùng với ca đoàn dâng lên, sau khi được đón rước Chúa Giêsu Thánh Thể là nguồn sự Bình An ngự vào tâm hồn chúng ta.
 
Để chiếm hữu được sự bình an chân thật của Chúa, chúng ta cần có các điều kiện sau:
 
  1. Tâm hồn trong sạch, sống trong ơn nghĩa với Chúa, không bị ràng buộc bởi bất cứ tội lỗi nào, nhất là tội trọng, vì tội làm cho lương tâm chúng ta luôn bị cắn rứt, mất quân bình, bởi bất tuân lệnh Chúa, phản bội Ngài, nên không còn được hưởng niềm an vui hạnh phúc trong tình Cha con thân mật với Ngài.
  2.  
  3. Tâm hồn nhiêm nhu, hiền từ nhân ái, luôn biết tôn trọng tha nhân, không bao giờ dám tự cao tự đại vươn mình lên trên kẻ khác, nhưng luôn đặt mình dưới hết mọi người; vì kẻ kiêu căng luôn bôn chôn rạo rực, phen bì, ghen tuông, giận ghét bởi thấy người khác hơn mình.
  4.  
  5. Tâm hồn luôn tin tưởng ở Thiên Chúa, tín thác mọi sự nơi Người, chỉ muốn điều Thiên Chúa muốn và làm điều Thiên Chúa muốn. Họ luôn bằng lòng với tất cả những gì do tình yêu thương mà Chúa là Đấng khôn ngoan luôn quan phòng định đoạt cho họ, cho gia đình hay cộng đồng cũng như quốc gia của họ.
  6.  
Kết Luận
 
Lạy Mẹ Maria, Mẹ là Mẹ sự bình an chân thật, vì Mẹ luôn chân nhận thân phận thụ tạo hèn yếu của mình, luôn hoàn toàn sống lệ thuộc vào Thiên Chúa, trong niềm tin yêu phó thác; đồng thời, luôn tôn trọng và đặt mình dưới hết mọi người, xin Mẹ dạy chúng con biết sống theo bí quyết bình an của Mẹ, để chúng con cũng được Chúa hài lòng và ban cho chúng con được tận hưởng sự bình an chân thật Chúa dành cho những con cái ngoan thảo của Chúa.
 
 
 

18. Truyền giáo
 
Có một linh mục người Mỹ thuộc dòng Tên, giảng dạy tại một trường đại học Công giáo nổi tiếng tại Phi Luật Tân. Ngày kia, tình cờ vị linh mục này đi vào một khu xóm lao động nghèo nàn và gặp một tu sĩ Tiểu đệ người Bỉ. Sau một hồi trao đổi, linh mục người Mỹ đã hỏi tu sĩ người Bỉ như sau: Anh ở đây làm gì vậy. Tu sĩ người Bỉ trả lời: Tôi đi chợ, nấu ăn, giặt giũ quần áo, tôi sống với những người anh em nghèo trong khu xóm lao động này. Nghe thế vị giáo sư người Mỹ có lẽ như tiếc rẻ cho sự hy sinh lãng phí ấy, nên mới nói về mình như sau: Tôi sang đây là để dạy học và thuyết trình, tôi đi đây đi đó, tôi đào ạo những con người hữu ích cho xã hội.
 
Qua cuộc đối thoại này, có lẽ chúng ta thấy được những khía cạnh khác nhau của việc truyền giáo trong Hội Thánh. Vị linh mục người Mỹ trên đây là điển hình cho một đội ngũ đông đảo các nhà truyền giáo của Hội Thánh trên khắp thế giới, từ thành thị đến nông thôn, từ học đường đến công sở. Nếu có những nhà truyền giáo hăng say hoạt động rao gảing thì cũng có những nhà truyền giáo âm thầm, sống như những chứng nhân. Tựu trung, hoạt động hay sống âm thầm, cả hai hình thức đều có chung một sứ mạng, đó là làm chứng cho Đức Kitô và nước của Ngài. Cả hai đều được sai đi, cả hai đều bị ràng buộc bởi một đòi hỏi giống nhau, đó là làm chứng cho Nước Trời bằng cuộc sống siêu thoát.
 
Đây là đòi hỏi cơ bản nhất mà Chúa Giêsu đã đề ra cho các môn đệ khi Ngài sai các ông lên đường rao giảng Tin Mừng. Ngài nói với các ông: Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, áo xống, giày dép và đừng chào hỏi ai dọc đường. Một cuộc sống siêu thoát, không lệ thuộc vào của cải trân gian, đó là biểu hiện tiên quyết cho chứng nhân Nước Trời.
 
Ra đi không hẳn là rời bỏ quê hương của mình để đến những miền đất xa lạ, nhưng chủ yếu là ra khỏi chính mình, ra khỏi con người ích kỷ của mình để đến với tha nhân trong tinh thần hoà giải, yêu thương và phục vụ. Đó là ý nghĩa của mệnh lệnh Chúa truyền: Vào nhà nào trước tiên các con hãy nói: bình an cho nhà này. Hiện diện giữa tha nhân, hiện diện với tha nhân bằng tinh thần chia sẻ, cảm thông và tha thứ, đó chính là sự ra đi đích thực của nhà truyền giáo. Giáo Hội tự bản chất là truyền giáo.
 
Là thành phần của Giáo Hội, mỗi người tín hữu, tự bản chất cũng là một nhà truyền giáo. Điều đó có nghĩa là những giá trị của Nước Trời cần phải được thể hiện trong chính cuộc sống giữa chúng ta. Chúng ta phải sống thế nào để những người chung quanh nhìn vào sẽ phải thốt lên sự bỡ ngỡ như những người Do Thái ngày xưa nhìn vào các tín hữu tiên khởi đã phải kêu lên: Kìa xem họ yêu thương nhau dường nào.
 
Bằng lời nói và nhất là bằng cuộc sống dạt dào yêu thương, chúng ta hãy trở nên là những chứng nhân sống động cho Đức Kitô giữa lòng cuộc đời.
 
 
 

19. Truyền giáo – Lm Giuse Nguyễn An Khang
 
Chúa nhật trước, Luca cho biết một dân làng Samaria không đón tiếp, Đức Giêsu đã đi sang làng khác. Đức Giêsu đã chỉ định bảy mươi hai môn đệ, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, để mở đường. Thực ra, con số bảy mươi hai đây chỉ là biểu tượng, không phải con số số học. Con số bảy mươi hai là lớn, nhưng thấm vào đâu so với cánh đồng lúa chín mênh mông. Lúa chín vàng không gặt sẽ rụng, khoai quá ngày không cuốc cũng hỏng. Thiếu các thừa sai, con người cũng hư mất.
 
Để có các Thừa sai, Đức Giêsu đưa ra cho chúng ta một giải pháp, đầu tiên là sự cầu nguyện. Đối với Người, rõ ràng công việc Tông đồ, không phải là công việc của con người như tuyên truyền hay quảng cáo, nhưng là một công việc của Thiên Chúa. Thiên Chúa là chủ, Phaolô trồng, Apôlô tưới. Thiên Chúa làm cho phát triển, vì thế phải cầu nguyện. Cầu nguyện là công việc đầu tiên và cốt lõi của việc Tông đồ.
 
Công việc Tông đồ được Đức Giêsu gọi với danh hiệu mùa gặt. Mùa gặt, theo truyền thống Kinh thánh được dùng là hình ảnh để nói về thời kỳ sau hết, về sự can thiệp của Thiên Chúa vào thời thế mạc (Ge 4,13 & Mt 13,19 & Kh 14,15-16). Trong Đức Giêsu, thời kỳ sau hết này đã bắt đầu. Đức Giêsu nhìn thấy sự dồi dào của mùa gặt thiêng thánh ấy. Trong mùa gặt ấy, các tín hữu, những môn đệ được sai đi: “Thầy sai anh em đi”, đó là một mệnh lệnh.
 
Đức Giêsu không che dấu sự khó khăn trong công việc này. Đức Giêsu đã lấy hình ảnh chiên con và bầy sói, để nói lên những khó khăn đó. Vâng, trong công việc truyền giáo, người tín hữu như một con chiên con bị bầy sói tấn công. Vì thế, chúng ta đừng ngạc nhiên khi có nhiều người mất đức tin, do những thất bại to lớn trong việc truyền bá đức tin. Chúng ta cũng đừng gán cho dân ngoại, những lương dân là bầy sói. Thực ra, mọi dân ngoại, mọi người vô tín đều được Chúa yêu thương. Họ là những con chiên bơ vơ, chưa được đưa về đàn. Chúng ta có bổn phận phải đưa họ về, để chỉ có một đàn chiên và một Chủ chiên.
 
Điều đáng lưu ý, hành trang người truyền giáo phải có, không phải túi tiền, bao bị, giày dép… nhưng là cách sống, trước tiên là nghèo khó. Không nên ỷ lại vào các phương tiện của con người. Đức Giêsu đã không sử dụng các vũ khí quyền lực của sự giàu sang, của vẻ lộng lẫy huy hoàng… Đức Giêsu không ra vẻ trịnh trọng, Người vốn giàu sang đã trở nên nghèo khó. Yêu sách đầu tiên Chúa đòi giáo hội phải theo gương Người, là nghèo khó.
 
Người truyền giáo cũng không nên mất thời gian vì những cử chỉ lễ phép quá mức và dài dòng, vì những lề thói thế tục. Cũng cần chào hỏi, nhưng đừng để ảnh hưởng đến việc truyền giáo. Việc truyền giáo là việc làm cấp bách. Trong Luca, điều gây ấn tượng mạnh là sứ giả của Tin Mừng chạy khắp nơi. Đức Maria vội vã đi thăm bà Isave, các mục đồng chạy đến máng cỏ, Philiphê chạy để đuổi kịp chiếc xe của một người Ethiôpe (Cv 8,30)….
 
Đức Giêsu cũng dạy người truyền giáo: “Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: Bình an cho nhà này”. Vâng, sứ mệnh của người truyền giáo là thông ban sự bình an, sự bình an đó chính là Đức Kitô. Tin Mừng cũng chính là điều đó. Người ta chỉ có thể cho người khác cái mình có. Người truyền giáo cũng chỉ thông ban sự bình an của Đức Kitô cho người khác, khi người ấy có. Cũng chỉ ai đáng hưởng, sự bình an của Đức Kitô mới đậu trên người ấy, bằng không sự bình an đó sẽ quay về với nhà truyền giáo.
 
Về vấn đề ăn uống, nhà truyền giáo không phải bận tâm, hãy ăn những thức ăn người ta dọn cho. Không cần đặt câu hỏi: Thức ăn đó sạch hay dơ? Như thế, Đức Giêsu có ý dạy ta phải có một tâm hồn cởi mở, phóng khoáng đối với tục lệ tập quán của những người khác, chấp nhận các tục lệ văn hoá của các dân tộc mà chúng ta muốn rao giảng Tin Mừng. Nói cách khác là hội nhập văn hoá.
 
Tuy nhiên, sứ mạng của các môn đệ là rao giảng Nước Thiên Chúa, nói với họ về Triều đại của Thiên Chúa. Triều đại của Thiên Chúa là gì? Chính là Đức Giêsu. Với Đức Giêsu, Thiên Chúa hiển trị, Thiên Chúa ở đó ngay từ bây giờ. Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa hoàn thành thế gian. Thế gian sẽ không trường tồn mãi. Lịch sử của nhân loại sẽ có lúc kết thúc. Nhưng sự chấm dứt này, không phải là hư vô. Cùng đích của vũ trụ là chính Thiên Chúa. Thế gian là một cuộc chiến đấu, Chính nghĩa Thiên Chúa sẽ thắng. Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Thánh ý của Thiên Chúa sẽ là điều tốt lành trọn vẹn của con người: Sự chữa trị các bệnh tật là một dấu chỉ của thánh ý ấy. Như Lời Chúa nói: “Anh em hãy chữa lành những người đau yếu trong thành, vì Triều đại Thiên Chúa đã đến”. Triều đại đó luôn được các môn đệ, các tín hữu công bố, dù người ta tin hay không, một ngày kia Thiên Chúa sẽ hiển trị. Đó là ngày phán xét. Dĩ nhiên những người ngoan cố chối từ, trong ngày ấy, họ sẽ bị trừng phạt hơn thành Sôđôma.
 
Bảy mươi hai môn đệ ra đi, trở về hân hoan, vì những thành công của họ, ngay cả ma quỷ cũng phải khuất phục. Đức Giêsu bảo họ: Điều đáng mừng hơn, đó là tên họ đã được ghi trên trời.
 
 
 

20. Chúa sai tôi đi – ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
 
Ta thường nghĩ rằng: Việc truyền giáo là dành cho các Giám mục, các Linh mục, Tu sĩ. Giáo dân không được học hỏi gì nhiều làm sao có thể truyền giáo được? Truyền giáo phải có nhiều phương tiện vật chất. Thiếu phương tiện không có thể làm gì được. Đó là những quan niệm sai lầm mà Chúa vạch cho ta thấy trong bài Tin Mừng hôm nay.
 
Chúa Giêsu cho ta thấy truyền giáo là công việc của mọi người khi Người sai 72 môn đệ lên đường. Mười hai Tông đồ có tên tuổi rõ ràng. Đó là thành phần ưu tuyển. Đó là các Giám mục, Linh mục, Tu sĩ. Còn 72 môn đệ không có tên tuổi rõ ràng. Đó là một đám đông không xác định. Đó là tất cả mọi người giáo dân. Khi sai 72 môn đệ, Chúa Giêsu muốn huy động tất cả mọi người thuộc đủ mọi thành phần tham gia vào việc truyền giáo.
 
Giáo dân tham gia vào việc truyền giáo bằng cách nào? Trước hết phải ý thức sự cấp thiết của việc truyền giáo: “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt”. Lúa đã chín vàng, phải nhanh chóng gặt về không được chậm trễ, nếu không lúa sẽ hư hỏng. Biết bao anh em đang chờ đợi được nghe Lời Chúa. Biết bao anh em đang tìm kiếm Chúa. Biết bao tâm hồn đang mở cửa đón Chúa. Ta phải mau mắn để khỏi lở mất cơ hội.
 
Thứ đến ta phải cầu nguyện. Sau khi đã chỉ cho thấy đồng lúa chín vàng, Chúa Giêsu không bảo lên đường ngay, nhưng Người dạy phải cầu nguyện trước. Cầu nguyện là nền tảng của việc truyền giáo. Vì truyền giáo phát xuất từ ý định của Thiên chúa. Ơn hoán cải tâm hồn là ơn Chúa ban. Nên cầu nguyện chính là truyền giáo và kết quả của việc truyền giáo bằng cầu nguyện sẽ rất sâu xa. Ta hãy noi gươngThánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu. Vị Thánh sống âm thầm, suốt đời chôn vùi trong 4 bức tường Dòng Kín. Thế mà nhờ lời cầu nguyện, Thánh nữ đã đem được nhiều linh hồn về với Chúa không kém thánh Phanxicô Xaviê, người suốt đời bôn ba khắp nơi để rao giảng Lời Chúa.
 
Khi đi truyền giáo, hãy trông cậy vào sức mạnh của Chúa. Chúa dạy ta: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép” để ta biết sống khó nghèo. Để ta đừng cậy dựa vào tài sức riêng mình. Để ta đừng cậy dựa vào những phương tiện vật chất. Biết mình nghèo hèn yếu kém, biết những phương tiện vật chất chỉ có giá trị tương đối, ta sẽ biết trông cậy vào sức mạnh của Chúa. Chính Chúa sẽ làm cho việc truyền giáo có kết quả.
 
Sau cùng, truyền giáo là đem bình an đến cho mọi người. Niềm bình an đến từ thái độ quên mình, sống chan hoà với những người chung quanh. Niềm bình an đến từ sự hiệp thông, có cho đi, có nhận lãnh. Và nhất là, niềm bình an vì được làm con cái Chúa, luôn sống dưới ánh mắt yêu thương của Chúa.
 
Như thế việc truyền giáo hoàn toàn nằm trong tầm tay của mọi người giáo dân. Mọi người đều có thể ý thức việc truyền giáo. Mọi người đều có thể cầu nguyện. Mọi người đều có thể trông cậy vào Thiên chúa. Và mọi người đều có khả năng cho đi, nhận lãnh, sống chan hoà với người khác
 
Như thế mọi người, từ người già tới em bé, từ người bình dân ít học đến những bậc trí thức tài cao học rộng, từ người khoẻ mạnh đến những người đau yếu bệnh tật, tất cả đều có thể làm việc truyền giáo theo ý Chúa muốn.
 
Hôm nay, Chúa đang than thở với mọi người chúng ta: “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt”. Chúng ta hãy bắt chước tiên tri Isaia thưa với Chúa: “Lạy Chúa, này con đây, xin hãy sai con đi”.
 
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
 
1- Bạn có thấy việc truyền giáo là cấp thiết không?
 
2- Theo ý bạn, muốn truyền giáo thành công trong vùng này, người tông đồ cần có những đức tính nào?
 
3- Bạn có bao giờ cầu nguyện cho việc truyền giáo, cho người làm việc truyền giáo, cho những người chưa biết Chúa ở chung quanh bạn không?
 
4- Bạn đã bao giờ tham gia vào việc truyền giáo trong Giáo xứ, trong Giáo phận chưa?
 
 
 

21. Mênh mông lúa đồng – Thiên Phúc.
 
(Trích dẫn từ ‘Như Thầy Đã Yêu’)
 
Một buổi tối nọ, ông John Keller, một diễn giả nổi tiếng được mời thuyết trình trước khoảng một trăm ngàn người tại vận động trường Los Angeles. Đang diễn thuyết, bỗng ông dừng lại và nói: “Xin các bạn đừng sợ. Tôi sắp cho tắt tất cả đèn trong sân vận động này”.
 
Đèn tắt, sân vận động chìm sâu trong bóng tối dày đặc. Ông John Keller nói tiếp: “Bây giờ tôi đốt lên một que diêm. Những ai nhìn thấy ánh lửa của que diêm tôi đốt thì hãy kêu lớn lên: “Đã thấy!” Một que diêm được bật lên, cả vận động trường vang lên “Đã thấy!”
 
Sau khi đèn được bật sáng, ông John Keller giải thích: “Anh sáng của một hành động nhân ái nhỏ như một que diêm sẽ chiếu sáng trong đêm tăm tối của nhân loại y như vậy”.
 
Một lần nữa, tất cả đèn trong sân vận động lại tắt. Một giọng nói vang lên ra lệnh: “Tất cả những ai có mang theo hộp quẹt, xin hãy đốt cháy lên!” Bỗng chốc, cả vận động trường rực sáng.
 
Ông John Keller kết luận: “Tất cả chúng ta hợp lực cùng nhau, có thể chiến thắng bóng tối, sự dữ và oán thù bằng những đốm sáng nhỏ của tình thương và lòng tốt của chúng ta”.
 
***
 
Đã qua hơn 2000 năm những lời dạy của Chúa Giêsu vẫn như đang nói với chúng ta hôm nay: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít”. Thế giới có trên 6 tỉ người, mà kẻ tin vào Chúa mới chỉ hơn một tỉ. Riêng tại Á Châu, chiếm 2/3 dân số thế giới, nhưng người Công giáo chỉ không tới 3%.
 
Cánh đồng lúa mênh mông còn bị bỏ hoang không thợ gặt hái. Thế giới này dường như vẫn còn mò mẫm trong bóng đêm dày đặc của sự dữ, của tranh chấp, của oán thù; rất cần những đốm sáng của tình thương, của khoan dung, của tha thứ. Thế nên, không lạ gì Chúa Giêsu đã nói: “Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói”.
 
“Ra đi” chứ không phải “ở lại”, đó là một lệnh truyền. Cả cuộc đời của Thầy là một hành trình: Sinh ra ngoài đường, sống và rao giảng ngoài đường, cuối cùng chết cũng ngoài đường. Thầy luôn lên đường và không ngừng ra đi. Công đồng Vaticanô II cũng long trọng khẳng định: “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo”. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng qủa quyết: “Không một ai trong những người tin vào Đức Kitô, không một tổ chức nào trong Giáo Hội được miễn khỏi trách vụ cao cả này: Đó là loan báo Đức Kitô cho mọi dân tộc”
 
Vậy ơn gọi của người tín hữu Kitô là “ra đi”.
 
Ra đi đem “bình an” đến cho các dân tộc, bình an giữa mọi người với nhau, bình an với Chúa.
 
Ra đi chữa lành bệnh nơi thể xác cũng như trong tâm hồn.
 
Ra đi loan báo Nước Thiên Chúa đã đến gần, nước tình yêu và ân sủng, nước công chính và bình an.
 
Thánh Phaolô đã phải thốt lên: “Khốn cho thân tôi: nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”. Nhưng việc làm mới chứng thực cho lời rao giảng, và lời rao giảng sẽ soi sáng cho việc làm. Ra đi là để làm chứng, và lời chứng sáng giá nhất chính là việc làm. Đúng như L. Moody đã nói: “Các ngọn hải đăng không thổi còi ầm ỉ, chúng chỉ chiếu sáng”.
 
***
 
Lạy Chúa Giêsu, Chúa sai chúng con ra đi không mang theo túi tiền, bao bị, giày dép, là để chúng con được siêu thoát mà lên đường, không cậy dựa vào sức riêng hay trần thế, nhưng chỉ phó thác nơi một mình Chúa mà thôi.
 
Xin cho chúng con luôn tin tưởng lên đường, dám sống chết cho sứ mạng Chúa đã trao ban. Amen.
 
 
 

22. Nghịch lý – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
 
(Trích dẫn từ ‘Cùng Nhau Suy Niệm’)
 
Nghịch lý của thời đại chúng ta đó là:
 
Đường phố rộng hơn, quan điểm lại hẹp hòi hơn
 
Chúng ta giành nhiều hơn nhưng lại có ít hơn
 
Mua sắm nhiều hơn nhưng hưởng thụ lại ít hơn
 
Chúng ta có những tòa nhà đồ sộ hơn nhưng gia đình lại bé nhỏ hơn.
 
Cuộc sống tiện nghi hơn nhưng ít thời gian nhàn rỗi hơn
 
Bằng cấp nhiều hơn nhưng giá trị lại ít hơn
 
Hiểu biết nhiều hơn nhưng nhận xét lại kém hơn
 
Nhiều nhân tài hơn nhưng ít sáng tạo hơn
 
Chúng ta sở hữu nhiều hơn nhưng nhân cách giảm nhiều hơn
 
Chúng ta nói quá nhiều, yêu thương thì quá ít và ghen ghét lại nhiều hơn
 
Chúng ta biết cách mưu sinh nhưng không biết tạo dựng cuộc sống
 
Chúng ta sống thọ hơn nhưng sống ít ý nghĩa hơn
 
Chúng ta làm được những điều cao sang nhưng lại không làm được điều đơn giản với đồng loại.
 
Vâng, cuộc sống xem ra tiến bộ hơn nhưng đáng tiếc chúng ta lại đang đánh mất nhiều hơn. Mất tình gia đình, mất tình bạn, mất tình làng nghĩa xóm. Cái mất lớn nhất của thời đại hôm nay chính là mất niềm vui của sự bình an tâm hồn. Vì cuộc đời hôm nay có quá nhiều những rủi ro, có quá nhiều những căng thẳng, những bất trắc khiến con người hôm nay dù có nhiều tiền, nhiều của, nhiều vật chất nhưng lại có rất ít những giây phút thư thái bình an. Cuộc đời luôn đong đầy những lo toan khiến con người hôm nay luôn phải sống trong cảnh đối phó với những nghịch cảnh có thể đưa tới. Bên cạnh sự vật lộn với cuộc sống quá nhiều khó khăn, sự bươn chải để tìm miếng cơm manh áo, cuộc sống chung quanh lại còn quá nhiều những sự dữ bủa vây như muốn nhậm chìm con người. Những tệ nạn xã hội như: xì ke, ma tuý, mại dâm,… luôn là những cạm bẫy có thể xâm chiếm và làm mất đi sự bình an nơi các gia đình. Thực tế, đã có biết bao gia đình khô cạn nước mắt vì một đứa con đang lao vào con đường xì ke, ma tuý; đã có biết bao gia đình tan nát vì lối sống buông thả, phóng túng của những người chồng thiếu trách nhiệm; đã có biết bao gia đình đang u sầu vì những quan hệ bất chính của những người cha, người mẹ đang làm gương mù gương xấu cho đàn con. Sự dữ dường như đang khống chế con người hôm nay. Sự dữ dường như đang làm chủ xã hội hôm nay khiến con người luôn cảm thấy bất an và lo sợ.
 
Cách đây hơn 2000 năm, Chúa Giêsu cũng nhìn thấy sự dữ đang hoành hành. Sự dữ đang gây nên những đau khổ, đổ vỡ, mất mát cho biết bao con người. Sự dữ luôn làm cho con người lo sợ, bất an. Chúa đã sai các môn đệ ra đi trong tình trạng khẩn trương và cấp bách. Cấp bách đến độ không cần chuẩn bị những hành trang bên mình như giầy, dép, bao bị,… Chúa muốn các môn đệ hãy ưu tiên cho việc đem Tin Mừng đến cho muôn người. Tin Mừng mà Chúa muốn các môn đệ đem đến cho nhân trần chính là đẩy lùi sự dữ và kiến tạo bình an cho các tâm hồn. Chúa bảo với các môn đệ hãy mang bình an của Chúa đến cho muôn người. Bình an của những con người thoát khỏi sự thống trị của sự dữ khi đón nhận tin mừng Nước Trời. Bình an sẽ được tặng ban khi Triều đại Nước Thiên Chúa thống trị địa cầu.
 
Lời mời gọi đó dường như vẫn đang cấp bách trong thời đại hôm nay. Một thời đại có quá nhiều sự dữ. Một thời đại của sự hưởng thụ, ích kỷ đã biến con người thành sự dữ đang giết chết bản thân và tha nhân. Chúa vẫn đang tha thiết mời gọi mỗi người chúng ta hãy chung tay góp sức đẩy lùi sự dữ ra khỏi gia đình, khỏi môi trường chúng ta sống. Hãy nói không với tội lỗi. Hãy tránh xa những cám dỗ tội lỗi. Hãy sống ngay lành để có niềm vui của sự bình an trong tâm hồn, và trao ban bình an cho tha nhân.
 
Nguyện xin Chúa là hoàng tử bình an ban bình an đến cho mỗi người chúng ta để nhờ đó chúng ta cũng biết trao ban bình an cho nhau. Xin cho mỗi người chúng ta cũng trở thành những sứ giả bình an cho thế giới hôm nay. Amen.
 
 
 

23. Phúc âm hoá bản thân mình trước hết.
 
(Trích dẫn từ ‘Cùng Đọc Tin Mừng’ – Lm. Ignatiô Trần Ngà)
 
Một triết gia Ấn Độ đã nhìn lại quãng đời đi của mình như sau: Lúc còn trẻ, tôi là một người có đầu óc cách mạng. Lời cầu nguyện duy nhất mà tôi dâng lên Thượng Đế là: Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để thay đổi thế giới.
 
Đến tuổi trung niên, tôi mới nhận thấy rằng một nửa đời tôi đã qua đi mà tôi chưa thay đổi được một người nào. Lúc đó, tôi mới cầu nguyện với Thượng Đế: Lạy Chúa, xin ban cho con ơn được biến cải tất cả những người con đã gặp gỡ hằng ngày, nhất là gia đình con, bạn bè con. Làm được như thế là con mãn nguyện rồi.
 
Nhưng giờ đây, cuộc đời đã về chiều, tôi mới nhận thức rằng tôi đã khờ dại biết bao: làm sao biến đổi cuộc đời người khác khi ta chưa biến đổi được bản thân ta. Thế nên giờ này, tôi chỉ còn biết cầu nguyện như sau: Lạy Chúa, xin ban cho con ơn được thay đổi chính con.
 
* * *
 
Cải thiện bản thân là điều kiện tiên quyết, là việc phải làm trước hết để có thể thay đổi những người chung quanh, đúng như Khổng Tử dạy: “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.” (theo “Lẽ sống”)
 
Tương tự như thế, khi được mời gọi phúc âm hoá thế gian, chúng ta phải lo Phúc Âm hoá bản thân chúng ta trước, rồi chúng ta mới có thể Phúc Âm hoá người khác sau.
 
Cầu cho ai được sai đi?
 
Trước khi sai 72 môn đệ ra đi, Chúa Giêsu dặn các ông: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”.
 
Xin chủ mùa sai ai đây?
 
Khi cầu xin ơn bình an, sức khoẻ và may mắn, thì chúng ta cầu cho bản thân ta trước; còn khi cầu cho có người làm thợ gặt trong cánh đồng của Chúa, thì chúng ta cầu Chúa ban ơn đó cho mọi người khác, ngoại trừ ta!
 
Dù muốn dù không thì đa số trong chúng ta đây đã là thợ gặt bẫm sinh rồi, vì ngay từ thơ ấu, khi được lãnh bí tích rửa tội, chúng ta đã trở nên chi thể của Chúa Giêsu, nên đã được thông dự vào sứ vụ tiên tri, tức sứ vụ loan Tin Mừng của Chúa Giêsu rồi. Vậy thì phải loan Tin Mừng, phải làm thợ gặt thôi, không thể nào thoái thác được, trừ phi chúng ta tự tách lìa mình khỏi Thân Thể Chúa.
 
Là thợ gặt của Thiên Chúa, chúng ta cũng được sai đi để loan Tin Mừng Nước Thiên Chúa, để đẩy lùi quyền lực của ma quỷ như 12 tông đồ và 72 môn đệ xưa.
 
Ai là người cần được rao giảng trước tiên?
 
Giáo điểm đầu tiên cần được truyền giảng Tin Mừng là chính bản thân chúng ta và gia đình chúng ta.
 
Dù mang danh là Kitô-hữu, đôi khi chúng ta còn xa lạ với Tin Mừng. Xa lạ với Tin Mừng vì chúng ta chưa đọc hết Tin Mừng và chưa từng khám phá kho tàng khôn ngoan ẩn dấu trong đó.
 
Xa lạ với Tin Mừng vì đời sống chúng ta và những giáo huấn của Tin Mừng còn cách biệt nhau rất xa!
 
Nếu Tin Mừng của Chúa Giêsu chưa sáng lên trong cuộc đời ta, trong tim ta, trong lòng ta… thì làm sao ta có thể đem lửa Tin Mừng ấy thắp lên cho người khác được. Không ai có thể cho điều mình không có. Lý do của việc thất bại trong công cuộc loan Tin Mừng là ở đó.
 
Thế nên, chính bản thân mỗi người chúng ta phải được phúc âm hoá trước, rồi ta mới có thể phúc âm hoá người khác sau.
 
Ai là người cần được xua trừ ma quỷ trước tiên?
 
Sứ mạng thứ hai mà Chúa Giêsu uỷ thác cho các môn đệ khi đi loan báo Tin Mừng là giải thoát con người khỏi quyền lực của Sa-tan.
 
Chưa bao giờ quyền lực Sa-tan trở nên khủng khiếp và mãnh liệt như trong thế kỷ nầy. Ma quỷ đã tận dụng mọi phương tiện truyền thông như sách báo, văn chương nghệ thuật, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, internet, âm nhạc, hội họa… để nô dịch hoá con người, đưa nhiều người vào trong cạm bẫy và tội lỗi.
 
Ma quỷ đang hoành hành khắp nơi trên thế giới, nhưng trước hết ma quỷ cũng đang chi phối mỗi người chúng ta. Phải nhận rằng nhiều lần bản thân chúng ta cũng đã bị ma quỷ xô đẩy làm điều sai trái đáng trách.
 
Vậy thì trước khi giải thoát người khác khỏi tai ách Sa-tan, chúng ta phải lo giải thoát mình trước.
 
Vậy người đầu tiên cần được giải thoát khỏi quyền lực ma quỷ lại cũng là chính chúng ta.
 
*** 
Qua Tin Mừng hôm nay, thánh Luca thuật lại cho chúng ta biết sau cuộc hành trình truyền giáo ngắn ngày, 72 môn đệ vui vẻ trở về báo cáo với Chúa Giêsu những thắng lợi vẻ vang: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con”.
 
Xin Chúa giúp chúng ta cũng đạt được những thắng lợi vẻ vang như vậy ngay trên chính cuộc sống của mình.
 
 
 

24. Phúc âm hoá bản thân mình trước hết
 
(Suy niệm của Lm. Ignatiô Trần Ngà)
 
Người chủ ruộng sẽ rất lo âu và sốt ruột khi nhìn thấy đồng lúa mênh mông bát ngát của mình đang vào thời kỳ chín rục mà chẳng tìm đâu ra thợ gặt để thu hoạch lúa về.
 
Chúa Giêsu cũng cảm thấy tâm hồn nôn nao xao xuyến khi phần đông nhân loại đang cần được cứu độ một cách khẩn thiết, nhưng chẳng mấy ai dấn bước đem ơn cứu độ cho họ.
 
Thế nên, khi sai 72 môn đệ ra đi, Chúa Giêsu căn dặn các ông: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ ruộng sai thợ ra gặt lúa về.” Lời căn dặn nầy hôm nay cũng được lặp lại với mỗi người chúng ta.
 
Đáp lời Chúa mời gọi, chúng ta sẵn sàng cầu xin có thêm thợ gặt, nhưng vấn đề là chúng ta sẽ cầu cho ai đi làm thợ gặt đây?
 
Ai là thợ gặt của Chúa?
 
Khi cầu xin ơn bình an, sức khoẻ và may mắn, thì chúng ta cầu cho bản thân ta trước; còn khi cầu cho có người làm thợ gặt trong cánh đồng của Chúa, thì chúng ta cầu Chúa ban ơn đó cho những người khác, ngoại trừ ta!
 
Nhưng, dù muốn dù không thì chúng ta đã là thợ gặt chính danh ngay từ khi được lãnh Bí Tích Thánh Tẩy. Nhờ Bí Tích nầy, chúng ta trở nên chi thể của Chúa Giêsu, nên được thông dự vào chức vụ ngôn sứ, tức sứ vụ loan Tin Mừng của Người. Vậy thì trách nhiệm ‘gặt lúa’ là trách nhiệm của chúng ta, không thể thoái thác được, trừ phi chúng ta tự tách lìa mình khỏi Thân Thể Chúa.
 
Là thợ gặt của Thiên Chúa, chúng ta cũng được sai đi để loan Tin Mừng Nước Trời, để đẩy lùi quyền lực của ma quỷ như 12 tông đồ và 72 môn đệ xưa.
 
Ai là người cần được rao giảng trước tiên?
 
Đứng trước đồng lúa mênh mông, thợ gặt không biết phải bắt đầu từ đâu? Nói khác đi, phải loan Tin Mừng cho ai trước hết?
 
Giáo điểm đầu tiên cần được rao giảng Tin Mừng là thế giới nội tâm của chúng ta, vì dù mang danh là Kitô-hữu nhưng có thể chúng ta còn xa lạ với Tin Mừng.
 
Xa lạ với Tin Mừng vì chúng ta chưa đọc hết bốn Tin Mừng và chưa từng khám phá kho tàng khôn ngoan chứa đựng trong đó.
 
Xa lạ với Tin Mừng vì đời sống chúng ta và những giáo huấn của Tin Mừng còn cách biệt rất xa!
 
Nếu Tin Mừng của Chúa Giêsu chưa sáng lên trong cuộc đời ta, chưa bừng cháy trong tim ta… thì làm sao chúng ta có thể đem lửa Tin Mừng ấy thắp lên cho người khác được. Không ai có thể cho điều mình không có.
 
Thế nên, chính bản thân chúng ta phải được phúc âm hoá trước, rồi ta mới có thể phúc âm hoá tha nhân.
 
Ai là người cần được xua trừ ma quỷ trước tiên?
 
Sứ mạng thứ hai mà Chúa Giêsu uỷ thác cho các môn đệ song song với việc loan báo Tin Mừng là giải thoát con người khỏi quyền lực của Sa-tan.
 
Chưa bao giờ quyền lực Sa-tan trở nên khủng khiếp và mãnh liệt như trong thế kỷ nầy. Ma quỷ đã tận dụng mọi phương tiện truyền thông như sách báo, văn chương nghệ thuật, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, internet, âm nhạc, hội họa… để lôi cuốn nhiều người vào cạm bẫy và tội lỗi.
 
Ma quỷ đang hoành hành khắp nơi trên thế giới, nhưng cũng phải nhận rằng ma quỷ cũng đang chi phối mạnh mẽ cuộc đời chúng ta, đang lôi kéo chúng ta làm nhiều điều sai trái.
 
Một người đang mang xiềng xích không thể giải thoát được ai. Vậy thì trước khi giải thoát người khác khỏi ách Sa-tan, chúng ta phải tự giải thoát mình trước.
 
Vậy người đầu tiên cần được giải thoát khỏi quyền lực ma quỷ lại cũng là chính chúng ta.
 
***
 
Lạy Chúa Giêsu,
 
Qua Tin Mừng hôm nay, thánh Lu-ca thuật lại cho chúng con biết sau cuộc hành trình truyền giáo ngắn ngày, 72 môn đệ vui vẻ trở về báo cáo với Chúa nhiều thắng lợi vẻ vang: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con.” (Lc 10,17)
 
Xin Chúa giúp chúng con là những người được Chúa sai đi thi hành sứ vụ, cũng đạt được những thắng lợi vẻ vang như vậy ngay trên chính cuộc sống của mình.
 
 
 

25. Thiên Chúa cần đến những con người.
 
(Trích dẫn từ ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’ – Achille Degeest)
 
Tuần tự theo sát bài đọc, chúng ta nhấn thêm vào mấy khía cạnh bản văn. Sứ mạng truyền giáo là khẩn thiết, vì lúa chín cần có những thợ gặt. Phải xin Chủ mùa sai thợ gặt đến. Sự truyền bá sứ điệp Phúc Âm giữa nhân loại gặp phải sức chống đối thù nghịch. Sứ giả Phúc Âm phải dốc toàn sức vào công việc tông đồ, không để bị vướng mắc bởi những quyền lợi vật chất và những quy ước xã giao (lời chào hỏi nói đến trong bài Phúc Âm ám chỉ nghi thức đông phương rườm rà làm mất thời giờ). Sứ điệp mang đến cho thế giới tin mừng bình an vì Nước Trời gần tới. Phúc thật cho nhà nào tiếp đón tông đồ của Phúc Âm. Vô phúc cho nhà nào từ chối sứ điệp vì trí óc và tâm hồn nhiễm khuynh hướng xấu.
 
Bài đọc gợi ý một số câu hỏi.
 
1) Chúa sai họ, từng toán hai người một, đi trước Người đến mọi thành thị nơi chốn Người định đến. Tại sao Chúa muốn cần đến những sứ giả? Tại sao Thiên Chúa không tỏ mình ra cho người ta? Dễ lắm, nếu được thế nhiều sự việc sẽ trở nên giản dị. Việc thiết lập Giáo Hội sẽ chẳng còn cần thiết, mỗi lương tâm sẽ đặt trước một sự lựa chọn rõ rệt và có trách nhiệm. Sở dĩ Thiên Chúa mặc lấy tính nhân loại trong con người Đức Giêsu và nói với con người qua Giáo Hội, vì Thiên Chúa tôn trọng quyền tự do của con người. Đức Giêsu Người-Chúa đã trở nên Thiên Chúa mà không xâm phạm bất cứ quyền tự do nào Người gặp thấy. Giáo Hội, một định chế vừa nhân bản vừa thần linh, phải có thần tính mà không xâm phạm bất cứ quyền tự do nhân loại nào trong thế giới mà Giáo Hội có sứ mạng cứu rỗi. Chúa muốn cần có những sứ giả bên cạnh nhân loại, bởi vì điều Giáo Hội đòi hỏi ở người ta là tự do đón nhận đức tin.
 
Sứ giả đức tin phải ý thức sáng suốt về vai trò mình. Đối với bản thân cũng như đối với người khác, phải tránh ràng buộc Phúc Âm vào những quyền lợi thế tục. Sứ giả đức tin không tìm kiếm trong Phúc Âm những quyền lợi thế tục, không rao giảng Phúc Âm như một giá trị hay một hệ thống văn minh. Điều ấy là phụ, tự nó sẽ đến. Những gì là thế tục, tài chính, kinh tế, đều không phải là công việc của người tông đồ.
 
2) Hãy chữa lành những bệnh nhân. Đã có một thời gian ngắn các tông đồ làm những việc chữa lành bệnh nhân như là những dấu chỉ, những điều lạ, để hậu thuẫn cho công việc rao giảng. Tuy nhiên sự chữa lành Phúc Âm đề nghị với mọi người ở một tầm cao khác. Sự rao giảng Phúc Âm phải gây ra trong người ta một ý thức có hai mặt: ý thức mình đau ốm, nghĩa là có tội – và ý thức mình được cứu rỗi nhờ niềm tin vào Đức Giêsu Kitô. Từ quan điểm kép, Phúc Âm làm phát sinh mâu thuẫn bởi lẽ con người khó mà nhìn nhận rằng mình tội lỗi – và ơn cứu độ Phúc Âm đề nghị là sự chữa lành bằng thập giá, phương thức ấy khiến con người vấp phạm. Hạnh phúc thay kẻ nào đón nhận Phúc Âm.
 
 
 

26. Ai là công nhân mùa gặt của Chúa?
 
(Trích dẫn từ ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ – Charles E. Miller)
 
Ngày kia có một người nhận xét, ông ta nghe thấy từ “ơn gọi” trên bục giảng có vẻ như ám chỉ”ơn gọi” đến từ Thiên Chúa chứ không phải chỉ dành cho chức linh mục hoặc tu sĩ. Đây là lúc: Mọi người Công Giáo đều có một ơn gọi đến từ Thiên Chúa.
 
Phúc Âm ngày hôm nay thường được cắt nghĩa theo ý nghĩa hẹp, khi Chúa Giêsu hướng dẫn chúng ta xin với chủ ruộng sai nhiều thợ gặt đến để gặt lúa, nhiều người đã suy nghĩ rằng Người muốn chúng ta cầu nguyện cho có nhiều vị linh mục. Thật sự ra chủ ý của Chúa không giới hạn trong ơn gọi đó.
 
Công đồng Vatican II nói rằng: “Tất cả những người Công Giáo đều tham dự đầy đủ và tích cực trong phụng vụ và trong sứ vụ của Giáo Hội. Đó là một ơn gọi”. Trong Thánh Lễ được cử hành trước Công đồng, vị linh mục đã tự mình làm hết mọi sự, vị linh mục được trợ giúp bởi một cậu trai nhỏ như là một cậu giúp lễ. Và tất cả cộng đoàn hiện diện trong một vai trò thụ động. Linh mục đã đọc tất cả mọi lời nguyện, tất cả các bài thánh thư và Phúc Âm trong Thánh Lễ, và tất cả cộng đoàn im lặng lắng nghe ngay cả việc rước lễ cũng được trao ban bởi chính ngài hoặc đươc giúp đỡ bởi các vị linh mục khác. Chỉ có cậu bé giúp lễ mới được đáp lại những lời nguyện của vị linh mục, còn cộng đoàn thì giữ im lặng. Những người đời không được phép đọc Thánh Kinh hoặc đọc những lời nguyện nào hoặc trợ giúp trong việc rước lễ. Nhiều người ngạc nhiên khi không quen với sách lễ trước đây hoặc quên đi thời hiệu của nó, sự thật chỉ một mình vị linh mục được đọc kinh “Lạy Cha”. Thật vậy, người giáo dân thì không được phép đọc kinh”Lạy Cha”. Vai trò thụ động của người giáo dân là một khoảng trống lớn, phản ánh sự thiếu toàn tâm toàn ý trong sứ vụ của Giáo Hội. Vì một công việc xem ra là của người giáo dân thì vị linh mục đã phải làm tất cả.
 
Công đồng Vatican II đã ra quyết định phục hồi và đề xướng phụng vụ thánh với mục đích giúp cho mọi người đều tham dự một cách đầy đủ, sinh động và ý thức bởi tất cả mọi người (x. Hiến chế về Phụng vụ số 14). Nhưng việc tham dự vào phụng vụ thì cũng bất toàn cho đến khi dẫn đến việc tham dự đầy đủ vào sứ vụ của Giáo Hội.
 
Chức linh mục thừa tác là nền tảng cho Giáo Hội. Điều đó không thể thay đổi. Nhưng Thánh Thần qua Công đồng đã kêu gọi tất cả những người Công Giáo đều phải trở thành những phần tử có trách nhiệm của Giáo Hội. Không để mọi sự cho vị linh mục nữa. Cũng không trốn tránh những ai thách đố về đức tin của chúng ta bằng việc nói với họ là chúng ta sẽ nói cho linh mục. Không sợ tỏ ra đức tin của người Công Giáo trong việc làm ở bất cứ nơi nào. Không miễn cho đức tin của chúng ta là cá nhân và riêng biêt và sẽ không ảnh hưởng đến chúng ta là cá nhân và riêng biệt và sẽ không ảnh hưởng đến chúng ta trong chính trị. Sự thật là tất cả mọi người chúng ta đều được kêu gọi đặc biệt, qua bí tích Thêm sức, để hoạt động, liên hệ và trở thành những người Công Giáo có trách nhiệm.
 
Giáo Hội làm viên mãn hình ảnh của Giêrusalem như là một người mẹ (x. Bài đọc I). Giáo Hội qua sự hợp nhất với Đức Kitô đã sản sinh ra những người con và nuôi dưỡng chúng bằng Lời và các bí tích. Giống như những người cha mẹ tốt, Giáo Hội cũng là thầy dạy và là người hướng dẫn. Từ hình ảnh này và thực tại của Giáo Hội mà mọi người chúng ta phải rút ra sự hướng dẫn và sức mạnh để trở thành những người Công Giáo năng nổ nhiệt tình.
 
Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng: “Tên của chúng ta đã được viết ở trên trời rồi”. Vì thế mà chúng ta phải vui mừng. Nhưng cho đến khi Chúa lại đến trong vinh quang để mang chúng ta về trời, chúng ta phải nhớ rằng công việc của Thiên Chúa trên trái đất này qua Giáo Hội của Người phải thật sự là của chính chúng ta.
 
 
 

27. Bảy mươi hai môn đệ được sai đi
 
Để hiểu được đoạn Phúc Âm nầy của Luca (do Luca thêm vào sau) chúng ta nên lưu ý: Phúc Âm là đời sống và đức tin của Giáo Hội dưới sự hướng dẫn của Chúa Giêsu Phục Sinh đang sống, đang hiện diện và đang hoạt động mạnh mẽ hơn trước nữa. Chính Người chủ sự mọi sứ vụ trong Giáo Hội. Bài sai thì đã phát ra rồi. Bây giờ chỉ cần sai đi. Mọi người được sai đi sẽ làm y như bài sai đã ban hành. Luca muốn nói như vậy qua bài tường thuật nầy vì mọi việc đã xảy ra như vậy rồi. Mười hai tông đồ là cho do thái. Việc truyền giáo cho dân ngoại đang phát triển tưng bừng và Luca đang phục vụ dân ngoại và trong vùng của dân ngoại. Phải làm cho thực tế nầy được hợp thức hoá. Phúc Âm Luca được viết 50 năm sau Chúa Giêsu Phục Sinh.
 
Rất nhiều nhà truyền giáo đang hoạt động hăng sai không thua kém các tông đồ chính thức như Phaolô, Barnabê, cả Luca… rất nhiều… Phải cho họ một danh hiệu mới công bằng. Luca muốn làm như vậy đó và chỉ có Luca.
 
72 là con số rất đông. Số 7 trong Kinh thánh là số huyền nhiệm chỉ tất cả. 72 là 7 nhân lên 10. 70 hay 72 cũng như nhau tuỳ theo cách dùng Do thái hay Hy lạp.
 
Là nhà truyền giáo thì tất cả đều đươc sai đi cùng một bài sai như nhau mặc dù có phân chia chức vụ theo công tác. Trước đây Đức Giêsu Galilêa chưa sai thì trong thời gian theo nhu cầu Chúa Giêsu Phục Sinh sẽ sai vì chính Người vẫn hoạt động không ngừng trong Giáo Hội. Các môn đệ “nhà truyền giáo” đang sống và hoạt động tông đồ. Áp dụng cho các ngài bài sai mà Đức Giêsu đã ban bố là hoàn toàn hơp lý vì đó là ‘qui chế’ chung cho mọi nhà truyền giáo. Khi Chúa Giêsu ban hành qui chế nầy chì có 12 ông đã đựoc huấn luyện. Hơn nữa 12 là số tượng trưng cho Israel thôi. Còn môn đệ thì 72 (70) ie. không giới hạn vì là cho muôn dân đông đảo như thực tế đã làm chứng.
 
Chỉ Luca quan tâm làm việc nầy vì chỉ Luca viết Phúc Âm cho dân ngoại (muôn dân) nơi cánh đồng truyền giáo còn mênh mong, cần rất nhiều thợ gặt. Chính Đức Giêsu đã chẳng bảo phải xin chủ ruộng sai thêm nhiều thợ đi gặt lúa sao? Phải có 72 môn đệ (vô số) nữa được sai đi mới thoả mãn được nhu cầu truyền giáo của dân ngoại (đông vô sô). Và Đức Giêsu Phục Sinh đang làm.
 
Những điều kiện tông đồ mà bất cứ nhà truyền giáo nào cũng phải tự trang bị cho mình nếu muốn làm nhà truyền giào chân chính như lòng Chúa Giêsu mong ước:
 
– Khó nghèo: Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép..
 
– Từ bỏ: đừng chào hỏi ai dọc đường
 
– Chấp nhận làm ‘ chiên con giữa bầy lang sói'(Không quan tâm tới an toàn bản thân).
 
– Hành trang duy nhất là sự bình an của Chúa để tặng cho nhà nào mà đến ở.
 
– Đi từng hai người: để làm chứng cho nhau là họ giảng dạy đúng như Chúa Giêsu sai.
 
Cần nhiều, rất nhều, môn đệ để Chúa Giêsu sai đi. Nhưng càng cần những môn đệ như lòng Chúa Giêsu mong ước để Người sai đi và chắc chắn đem lại nhiều hoa trái, những hoa trái như lòng Người mong ước. Ngày nay, cho ngày nay, chúng ta nghe than vản luôn luôn ‘thiếu linh mục, thiếu tu sỉ ‘ nhưng cũng nghe than vãn có những linh mục, tu sĩ không được như lòng Chúa Giêsu mong ước! Người xưa có câu: Binh quí phi tự hồ đa dĩ tự hồ tinh. Luca cũng nhắc lại lời Chúa Giêsu: Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì còn ít, anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ đi gặt lúa về. Chúng ta cũng cầu xin thêm: Xin Chúa Giêsu Phục Sinh ban cho thế gian nhiều thợ gặt như lòng Chúa mong ước.
 
 
 

28. Hãy ra đi rao giảng Tin Mừng
 
(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
 
Câu đầu trang Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu chọn thêm bảy mươi hai người nữa, và sai các ông cứ từng hai người đi trước Người, đến các thành và các nơi mà chính Người sẽ tới (Lc 10, 1). Như thế, sứ mạng loan báo Tin Mừng không chỉ dành riêng cho nhóm 12 Tông Đồ, nhưng còn được trao cho cả những môn đệ khác nữa. Đây là một đặc điểm tiêu biểu của thánh sử Luca khi muốn nhấn mạnh đến sứ mạng phổ quát của việc loan báo Tin Mừng trong đó chúng ta có nhiệm vụ này.
 
Trong sứ điệp ngày thế giới truyền giáo năm 2011, khi nhắc đến tính chất thời sự và cấp thiết của sứ vụ truyền giáo mà Chúa Kitô đã ủy thác cho Giáo Hội. Đức Nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI viết: “Sứ vụ này vẫn chưa được hoàn tất… “Một cái nhìn chung về nhân loại cho thấy sứ mạng ấy vẫn còn ở giai đoạn khởi đầu và chúng ta phải hết sức dấn thân phục vụ sứ mạng ấy ” (J.P. II, RM 1). Chúng ta không thể tiếp tục an tâm khi nghĩ rằng sau hai ngàn năm, vẫn còn những dân tộc không biết Chúa Kitô và chưa được nghe biết sứ điệp cứu độ của Ngài.
 
Đúng là như thế, Chúa Giêsu nói: “Lúa chín thì nhiều, nhưng thợ gặt lại ít”(Lc 10,2) cách đây gần 2000 năm vẫn còn luôn thời sự, Ngài mời gọi chúng ta: ” Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người “(Lc 10,2). Cánh đồng của Thiên Chúa thật bao la bát ngát, những người được sai đi thỏa sức làm việc. Nhưng Chúa Kitô không phải chỉ giới hạn trong việc sai đi mà thôi, Chúa còn trao cho các nhà truyền giáo những quy luật rõ ràng để hành xử. Trước hết, Chúa, “sai các ông cứ từng hai người đi trước Người, đến các thành và các nơi mà chính Người sẽ tới” (Lc 10,1) để họ giúp đỡ lẫn nhau và làm chứng cho tình thương huynh đệ. Chúa cảnh báo cho họ biết trước là họ sẽ như “chiên ở giữa sói rừng” (Lc 10,3), nghĩa là trước sự dửng dưng, không đón tiếp, có khi bị từ chối, bị ngược đãi, bị bắt bớ bởi thế gian dành cho họ, hiền hoà là thái độ luôn cần phải có đối với họ. Vì là sứ giả hòa bình, nên họ phải mang sứ điệp hoà bình đến trong mọi hoàn cảnh như lời Chúa dạy: “Vào nhà nào, trước tiên các con hãy nói: Bình an cho nhà này” (Lc 10,3), và Chúa khuyên họ: “Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép ” (Lc 10, 4). Tại sao vậy? Thưa là để người được sai đi sống với những gì Chúa Quan Phòng an bài cho họ; họ sẽ chăm sóc cho những kẻ đau yếu như là dấu chỉ của lòng nhân từ Thiên Chúa; nơi nào họ bị khước từ, họ sẽ đi nơi khác, chỉ cần cảnh báo nơi đó về trách nhiệm khước từ Nước Thiên Chúa. Thánh sử Luca làm nổi bật lòng hăng say của các môn đệ vì những kết quả tốt của sứ mạng, và ghi lại lời nói đẹp sau đây của Chúa Giêsu: “Các con chớ vui mừng vì các thần phải vâng phục các con, nhưng hãy vui mừng vì tên các con đã được ghi trên trời” (Lc 10,20).
 
Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thế giới, con người đang tìm kiếm sự sung túc, kiếm tiền dễ dàng, công danh sự nghiệp và thành công như mục đích của cuộc sống, gây thiệt hại cho các giá trị luân lý, sống xa rời Sứ điệp Tin Mừng, và sống như thể không có Thiên Chúa.
 
Trang Tin Mừng trên đây khơi dậy nơi chúng ta, những người đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội ý thức làm nhà thừa sai của Chúa Kitô, những kẻ được gọi để chuẩn bị đường cho Chúa, bằng lời nói và bằng chứng tá đời sống. Vì Thánh Phêrô nói: “Tin mừng không phải là một thiện ích dành riêng cho người lãnh nhận, nhưng là một hồng ân cần phải được chia sẻ, một tin vui cần phải thông truyền. Hồng ân – Nghĩa vụ này được ủy thác không phải chỉ cho vài người, nhưng cho tất cả các tín hữu đã chịu phép rửa, họ là giòng dõi được tuyển chọn… là những người thánh thiện, là dân mà Thiên Chúa đã thủ đắc cho mình” (1 Pr 2,9).
 
Vì vậy không lạ gì khi Công đồng Vaticanô II và Huấn quyền sau Công Đồng của Hội Thánh luôn nhấn mạnh một cách đặc biệt về nhiệm vụ truyền giáo mà Đức Kitô đã uỷ thác cho các môn đệ của Người, và là nhiệm vụ mà toàn thể Dân Thiên Chúa: các giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ và giáo dân phải dấn thân thực hiện. Hội Thánh phải cảm thấy lệnh truyền rao giảng Tin Mừng của Chúa chất vấn mình mãnh liệt, để Đức Kitô được rao giảng khắp nơi.
 
Là những tín hữu trong Đức Kitô, chúng ta phải tiếp bước Thánh Phaolô Tông Đồ, là “tù nhân của Đức Kitô vì anh em, những người dân ngoại” (Ep 3, 1), ngài đã chịu đau khổ và chiến đấu để đem Tin Mừng đến giữa dân ngoại (x. Cl 1, 24-29), không ngại tiêu hao sức lực, thời giờ và của cải để loan báo Sứ điệp của Đức Kitô.
 
Chân phước Gioan Phaolô II trong Thông điệp Redemptoris Missio viết: “Chúng ta không thể ngồi yên khi nghĩ tới hàng triệu anh chị em chúng ta đang sống trong tình trạng không biết đến tình yêu của Thiên Chúa, chính họ cũng được cứu chuộc bằng máu Chúa Kitô” (số 86).
 
Khi công bố Năm Đức Tin, Đức Nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã viết rằng: Đức Kitô “hôm nay cũng như hồi ấy, sai chúng ta đi khắp các nẻo đường trên thế giới để loan báo Tin Mừng của Người cho mọi dân tộc trên mặt đất” (Tông Thư Porta Fidei, 7).
 
Ngày nay cũng thế, sứ mạng Ad gentes đến với muôn dân luôn là khuôn mẫu cho mọi hoạt động của Hội Thánh, vì chính căn tính của Hội Thánh được tạo thành bởi đức tin vào Mầu Nhiệm Thiên Chúa, Đấng đã tỏ mình ra cho chúng ta trong Đức Kitô để đưa chúng ta đến ơn cứu độ, và bởi sứ mạng làm chứng và loan báo Người cho thế giới, cho tới khi Người lại đến.
 
Chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần xuống tràn đầy trên việc loan báo Tin Mừng, đặc biệt trên những ai đang làm việc trên cánh đồng truyền giáo, để Ân Sủng của Thiên Chúa làm cho công cuộc rao giảng Tin Mừng tiến bước vững vàng trong lịch sử thế giới.
 
Xin Mẹ Maria, Mẹ là Mẹ Hội Thánh và là Ngôi Sao dẫn đường loan báo Tin Mừng đồng hành với tất cả các thừa sai Tin Mừng. Amen.
 
 
 

29. Hãy đi giảng dạy
 
(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
 
“Hãy đi giảng dạy!”. Đó là câu châm ngôn của Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình mà Giáo Hội Việt Nam nói chung và Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã cử hành đại tang lễ. Ngay từ ngày thụ phong giám mục, Đức Tổng Giám Mục đã chọn cho mình câu châm ngôn “Hãy đi giảng dạy” cũng là mệnh lệnh truyền giáo của chính Chúa Giêsu. Đức Tổng Giám mục là một Giám mục truyền giáo. Quả thật, 40 năm kể từ ngày thụ phong Giám mục cho đến lúc từ trầ, Ngài đã thể hiện câu châm ngôn sống: “Hãy đi giảng dạy”. 40 năm, con đường thật dài và khúc khuỷu. Khúc khuỷu vì những biến động của thời đợi, khúc khuỷu vì những đổi thay của thể chế xã hội, chính trị và kinh tế. Và khúc khuỷu của lòng người vốn khó thăm dò. Nhưng dẫu khó khăn và khúc khuỷu đến đâu, Ngài vẫn Đi. Đi trong suy tư và cầu nguyện. Đi bằng thái độ hiền hòa, khiêm tốn và kiên nhẫn. Đi trong tin tưởng và phó thác. Và Đi để Giảng dạy. Vì xác tín rằng, ẩn bên trong những khúc khuỷu của thời đại và lòng người, vẫn là khát vọng được sống, sống mãnh liệt và phong phú. Và cũng xác tín rằng chỉ có Đức Kitô mới là Đấng đáp trả và đong đầy khát võng sống mãnh liệt ấy, nên Ngài không ngừng nỗ lực giới thiệu Đức Kitô cho mọi người.
 
Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng là một Giáo hoàng truyền giáo. Ngài đã ra khỏi giáo triều ở Rôma nhiều nhất để đi đến với muôn dân trên khắp năm châu. Đến đâu Ngài cũng luôn rao giảng Tin Mừng Đức Kitô cho mọi người. Những chuyến công du mục vụ ấy đã cho Ngài thấy rằng: Mệnh lệnh “Hãy đi rao giảng Tin Mừng” của Chúa Giêsu chưa được các Kitô hữu thi hành. Đối với Đức Thánh Cha, vấn đề cấp bách là: phải đem Tin Mừng đến cho những vùng đất mênh mông chưa biết Chúa. Phải tái Phúc Âm hóa những vùng đất xa xưa đã một lòng tôn thờ Chúa nhưng nay đã lơ là, bỏ Chúa. Phải đem Tin Mừng thấm nhập các sinh hoạt xã hội loài người.
 
“Lúa chín đầy đồng, thợ gặt quá ít”. Một nhận định vừa hân hoan vừa báo động. Đối với chúng ta hôm nay là một lời báo động, vì nếu lúc chín vàng đồng mà gặt không kịp, lúa sẽ rụng hết. Một thực tế bi đát vì tình trạng thiếu thợ gặt so với cánh đồng lúa chín vàng bát ngát. Mười hai Tông đồ được sai đi, rồi lại thêm 72 môn đệ nữa, cũng chưa đáp ứng đủ yêu cầu. Các Giám mục, các linh mục, rồi các tu sĩ nam nữ cũng còn quá ít, cần phải có sự tiếp tay của các giáo dân nữa.
 
Vào tháng 10 năm 1987, Thượng Hội Đồng Giám mục thế giới đã khai mạc tại Rôma. 232 Giám mục từ khắp năm châu kéo về Rôma để cùng nhau nghiên cứu vấn đề “ơn gọi và sứ mạng của người giáo dân trong Giáo Hội và trong thế giới ngày nay”. Vì là vấn đề liên quan đến giáo dân, nên bên cạnh các Giám mục, người ta còn thấy có 53 giáo dân: 27 nam và 26 nữ. Nếu chúng ta đối chiếu 12 Tông đồ với các Giám mục thì sự hiện diện của 27 ông và 26 bà trong Thượng Hội Đồng Giám mục thế giới ở Rôma là một sự kiện mới mẻ, như trong Tin Mừng hôm nay: “Chúa Giêsu chọn thêm 72 môn đệ nữa”. Từ Thượng Hội Đồng nầy, một tông huấn mang tựa đề: “Ngừoi Kitô hữu giáo dân” đã được công bố. Trong đó, Đức Thánh Cha nói: “Giáo dân, vì là thành phần của Giáo Hội, nên mang ơn gọi và sứ mạng loan báo Tin Mừng. Các bí tích khai tâm kitô giáo và các ân huệ của Chúa Thánh Thần đã trang bị khả năng và thúc giục họ thi hành sứ vụ của mình” (số 33). Đức Thánh Cha còn nói: “Chắc chắn rằbg: mệnh lệnh của Chúa Giêsu ‘Hãy đi loan báo Tin Mừng’ vẫn mang giá trị trường tồn và đặt ra một cách cấp bách. Tuy nhiên, tình trạng hiện nay trong thế giới, đang đòi hỏi tuyệt đối phải thực thi mệnh lệnh của Chúa một cách khẩn trương và quảng đại hơn. Một người môn đệ đích thực của Chúa Kitô không có quyền từ chối lời đáp trả của riêng mình: “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Cho hay, cái mới mẻ trong việc thực thi cuộc loan báo Tin Mừng là tất cả toàn dân Chúa, không phân biệt nam nữ, già trẻ, giàu nghèo, mạnh yếu. Tất cả đều được sung vào việc tông đồ truyền giáo.
 
Trước tình trạng khẩn trương ngày nay, chúng ta đâu có quyền trông đợi những vị truyền giáo ở các nước ngoài đến giảng đạo cho chúng ta như ngày xưa đã đến giảng đạo cho ông bà chúng ta. Giờ đây, chính những linh mục đã được chọn giữa chúng ta cũng chưa bù đắp được gì cho số người đông đúc và đa dạng ngày nay. Vì thế, Đức Thánh Cha hô hào: “Giá dân ngày nay phải dấn thân vào công tác truyền giáo của Giáo Hội”. Thượng Hội Đồng Giám Mục đã định nghĩa vị thế độc đáo của người giáo dân giữa lòng Giáo Hội và giữa thế giới bằng hai mệnh đề như sau: “Giáo dân là ‘ người của Giáo Hội’ trong lòng thế giới”. “giáo dân là ‘người của thế giới’ trong lòng Giáo Hội”. Là người của Giáo Hội, người giáo dân phải đem Giáo Hội và Chúa Giêsu vào trong thế giới. Và là người của thế giới, giáo dân phải đem thế giới đến cùng Giáo Hội và Chúa Kitô.
 
Tông huấn “người Kitô hữu Giáo Dân” vẫn nhắc lại sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân của Công Đồng Vatican II để kêu gọi giáo dân ý thức nhiệm vụ làm tông đồ trong môi trường của mình. Chính người tín-hữu-thương-gia, tín-hữu-công-nhân phải đem Chúa đến và làm gương sáng cho anh em mình nơi đồng ruộng, ngoài thị trường, trong cơ quan xí nghiệp của mình. Hãy coi nơi mình đang ở, chỗ mình đang làm việc là những nơi Chúa sai mình đến “như chiên ở giữa đàn sói”, không phải để bị sói vồ chụp cắn xé, nhưng để biến sói thành chiên; không phải lấy sức mạnh đọ lại với sức mạnh, không phải dùng mưu mô đối lại với mưu mô, nhưng khí giới của chúng ta là khí cụ bình an và hiên hòa, theo gương cuộc sống của Đức Cố Tổng Giám Mục của chúng ta. Bởi vì Chúa không cho những người được sai đi mang theo gì cả, không được dự trữ tiền của hoặc võ trang tối thiểu để đối phó với mọi tình huốc trắc trở. Chúa muốn chúng ta phải đến với những người anh em mình một cách đơn sơ chân thành, không băn khoăn bối rối, không rào trước đón sau. Hơn nữa, còn phải loan báo Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh tật, nghĩa là phải lo cho anh em phần hồn, phần xác. Đi đến với người mạnh cũng như kẻ yếu; quan tâm đến tinh thần và cả đến đời sống vật chất nữa. Như vậy tức là để ý đến con người toàn diện và tất cả mọi người. Các người chung quanh chúng ta, bà con hàng xóm láng giềng, các bạn đồng nghiệp của chúng ta trong cơ quan, xí nghiệp nhất định sẽ tin vào Chúa Kitô, nếu chúng ta loan báo Chúa Kitô với tinh thần dịu hiền, vô vụ lợi, hoàn toàn phục vụ, phó thác vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Mọi người sẽ tin vào chứng ta của chúng ta khi thấy chúng ta sống yêu thương nhau, cộng tác với nhau cách chân tình, không ganh tị và định kiến, biết tôn trong chân lý và công bình, sẵn sàng phục vụ lợi ích chung của đồng bào và đất nước. Nhờ sự hiện diện và hoạt động tích cực giữa đời như vậy, anh chị em sẽ làm sáng danh Chúa và góp phần hữu hiệu vào việc xây dựng Nước Trời. Sống như thế, anh chị em mới có lý do chính đáng để hân hoan vui mừng, vì như Chúa đã bảo đảm: “Anh chị em hãy vui mừng vì tên tuổi anh chị em sẽ được ghi đậm nét ở trên trời”.
 
 
 

30. Sai 72 môn đệ đi rao giảng – McCarthy
 
Suy Niệm 1. Mùa gặt bội thu
 
Kitô giáo là một tôn giáo thực hành. Catherine de Hueck Doherty là một Kitô hữu nổi tiếng. Sinh ra trong một gia đình quý tộc ở nước Nga, bà sống phần lớn cuộc đời ở Mỹ. Bà nói: “Ngay khi còn nhỏ tuổi, tôi biết rằng Tin Mừng là để sống”.
 
Khi đã trưởng thành chị làm công việc của một người bưng nước trong một quán ba ở Manhattan. Trong một dịp kia, chị thông báo cho một nhóm lính Mỹ và những bạn gái của họ (họ đều biết chị là người Công giáo) đã đến giờ đóng cửa (4 giờ sáng) và chị phải về.
 
“Chị đi đâu, Latie?” họ hỏi.
 
“Hôm nay Chúa nhật, tôi đi dự Thánh lễ”.
 
“Vâng, ra cô là người Công giáo?”.
 
“Vâng” chị đáp.
 
Họ không thể nào hiểu nổi sự kiện chị là một người Công giáo hành đạo mà lại làm việc ở một nơi như thế. Tất cả bọn họ đi theo chị đến nhà thờ dự Thánh lễ. Hai tuần sau, một cô gái trong nhóm trở lại. Cô ấy nói: “Chị làm tôi suy nghĩ. Nếu chị có thể sống một đời sống tốt lành khi phải làm việc ở một nơi như thế này, vì thế có lẽ tôi cũng có thể làm được”.
 
Một lần khác Catherine đi tàu điện ngầm ở Montrial thì gặp một phụ nữ già, cô độc nói với chị: “Chị có muốn nói chuyện với tôi một lúc không?”. Họ làm hai chuyến đi từ đầu này đến đầu kia của tàu điện ngầm và nói chuyện hết thời gian. Họ trở thành bạn tốt của nhau, và thường viết thư cho nhau cho đến lúc người phụ nữ ấy qua đời.
 
Mùa gặt dĩ nhiên là bội thu đối với những người có con mắt nhìn nó và một tâm hồn đáp lại. Mùa gặt ấy trong các bệnh viện, gia đình, trường học, nhà tù, công trường, vùng phụ cận. Mỗi ngày là một ngày gặt hái.
 
Đức Kitô sai các Tông đồ ra đi giúp Người thu hoạch mùa màng. Chúng ta có khuynh hướng để việc ấy cho những nhà chuyên môn: cho các linh mục, nữ tu, các nhà truyền giáo. Những người mà Đức Kitô sai đi không phải là những nhà chuyên môn. Tuy vậy, họ đã trở thành những công cụ của người. Trao trách nhiệm cho một cá nhân và để cho người ấy biết bạn tín nhiệm người ấy là đem lại cho người ấy một sự giúp đỡ mà ít có sự giúp đỡ nào bằng.
 
Nhóm bảy mươi hai bắt đầu là những môn đệ của Người. Rồi Người hướng họ đến mục tiêu bên trên họ với việc làm cho họ thành những Tông đồ. Đó là cách thức phải luôn luôn được thực hiện. Chúa yêu cầu chúng ta chia sẽ với những người khác điều mà chúng ta đã nhận được từ Người. Có những điều vẫn còn chưa làm được nếu chính chúng ta không làm. Chúng ta nâng cao chúng ta lên trong mức độ chúng ta nâng cao người khác lên.
 
Làm một Tông đồ có nghĩa là một người được sai đi. Để có thể làm được công việc của Đức Giêsu. Chúng ta không cần phải là một loại thiên tài hoặc siêu nhân nào đó. Có sự khác nhau giữa một Tông đồ và một thiên tài. Sự khác nhau ấy ít liên quan đến tài năng và trí tuệ, mà có liên quan đến mục đích và sự dấn thân.
 
Bởi lẽ người ta được kêu gọi không có nghĩa để được trở thành thông minh hơn hoặc có nhiều tưởng tuợng hơn trước đó. Không, người ta vẫn có quan hệ với những ơn tự nhiên. Nhưng giờ đây, họ có nhiều quyết tâm hơn, nhiều sự dâng hiến hơn. Điều ấy đã tạo ra sự khác nhau to lớn.
 
Suy Niệm 2. Làm chứng bằng thương tích
 
Bốn mươi năm sau khi rời bỏ trại giam Auschwitz, nhà văn Ý Primo Levi vẫn còn mang hình xăm với con số của ông khi còn ở đó. Khi người ta hỏi ông tại sao không xoá nó đi, ông đáp: “Tại sao tôi phải làm thế? Không có nhiều người trong chúng ta được đưa vào thế giới để làm nhân chứng”.
 
Alexander Solzhenitsyn nói rằng ông vẫn còn bốn mảnh vải dùng để vá mang con số mà người ta phát cho ông khi còn trong nhà tù. Ông không phải là người duy nhất đem chúng ra khỏi trại giam. Không xấu hổ về những điều đó, ông nói: “Trong một số gia đình, chúng được phô bày ra như những thành tích”.
 
Thánh Phaolô cũng không xấu hổ vì những dấu tích mà ông mang trên mình ông vì Đức Giêsu Kitô. Thật vậy, ông bình thản lôi kéo sự chú ý về những dấu tích ấy (Bài đọc 2). Ông nói với những tín hữu Galat1: “Những dấu tích trên người tôi là những dấu tích của Đức Kitô”. Bằng từ “dấu tích”, ông không có ý nói đến những dấu thành như Padre Pio và những người khác cho rằng mình được in dấu thánh. Ông muốn nói đến những dấu tích, vết thẹo mà những gian lao, bệnh tật, sự đánh đòn, ném đá còn để lại trên thân thể của ông. Đó là những sự trả giá cho việc ông phục vụ Đức Kitô.
 
Điều thú vị hơn nữa là sự kiện Đức Giêsu giữ lại dấu đinh và vết đòng đâm trên thân thể Phục Sinh của Người. Người ta có thể hy vọng Người làm mất hết mọi dấu tích để chứng tỏ rằng mọi sự đã qua cả rồi, đã ở sau lưng Người, và bởi vì Người đã không muốn làm cho các Tông đồ khó xử vì họ đã bỏ rơi Người hoặc những người trực tiếp hay gián tiếp có trách nhiệm gây ra các dấu tích ấy.
 
Nhưng Đức Giêsu đã không tháo bỏ mọi thương tích. Người đã giữ chúng lại. Đối với Người những vết tích ấy không làm cho Người xấu hổ hoặc bối rối. Chúng là những chứng cứ sống động của tình yêu Người, là những dấu chỉ hữu hình và hùng hồn một tình yêu chân thật phải trả giá như thế nào. Chúng giống như những huy hiệu danh dự, hoặc những huy chương chỉ sự lỗi lạc mà khó khăn lắm người ta mới dành được. Chúng vẫn là những thương tích nhưng chất độc đã bị trừ khử, và vì thế không còn làm tổn thương. Bởi vì các thương tích của Đức Giêsu vẫn còn thấy rõ trên thân thể Phục Sinh của Người, chúng đã trở thành suối nguồn hy vọng cho tất cả chúng ta, đặc biệt cho những người đã chịu đau khổ và vẫn đang còn đau khổ.
 
Rất nhiều lần chúng ta muốn che giấu những thương tích của chúng ta. Chúng ta muốn giấu kín những tổn thương của quá khứ. Và cả khi bên ngoài của chúng đã lành lặn, chất độc thường vẫn còn lại, và do đó còn gây thương tổn. Nếu chúng ta yêu, chúng ta phải sẵn sàng chịu thương tích. Tuy nhiên, điều đó không giúp chúng ta bị đầu độc bởi sự cay đắng và lòng thù hận. Sự cay đắng là điều tệ hại khủng khiếp. “Người ta có thể sống qua những gian khổ lớn lao nhưng lại chết bởi những cảm nghĩ đắng cay” (Solzhenitsyn).
 
CÂU CHUYỆN KHÁC
 
Felix Frankfurter là một quan toà nổi tiếng của Toà án Tối cao Hoa Kỳ. Một lần kia ông được đưa vào bệnh viện ở đó ông quen biết một y tá có tên là Lucy. Họ có những lúc ngồi nói chuyện thân mật và ông biết được nhiều điều về Lucy.
 
Trước đó, chưa bao giờ ông gặp được người nào có lòng quảng đại và nhân hậu như chị. Và ông bắt đầu tự hỏi và suy nghĩ, cố gắng khám phá suối nguồn của thái độ của chị. Điều ông khám phá như sau: Suối nguồn ấy không có gì là bí ẩn. Nói đơn giản chỉ là sự áp dụng thực hành đức tin của chị. Ông rất ngạc nhiên bởi vì ông chưa bao giờ biết có người nào mà đời sống mỗi ngày được đặt trên nền tảng tôn giáo như chị.
 
Lucy không bao giờ biết đức tin sống động của chị có ảnh hưởng như thế nào, nhưng cô đã làm cho Đức Giêsu hiện diện cụ thể trong bệnh viện này. Chị đem đến đôi bàn tay mà Đức Giêsu cần đến. Đức Giêsu cần những nhân chứng cho người ta như chị Lucy đến nỗi Người có thể trở thành Đấng an ủi như Người muốn làm.
 
Một quan hệ thật sự với Đức Giêsu sẽ có một ảnh huởng cả khi người có mối quan hệ ấy không đề cập đến Đức Giêsu. Dĩ nhiên, những người tin vào Đức Giêsu và yêu mến Người, cũng sẽ khi thuận lợi nói về Chúa Giêsu một cách rõ ràng cởi mở.
 
 
 

31. Suy niệm của R. Gutzwiller
 
TIẾP NHẬN NGÀI (10, 1-12)
 
Nhiều người muốn theo Chúa, song thái độ của họ chưa thực tình dứt khoát hoặc còn giả tạo nữa. Ngài muốn họ lưu tâm đến cái quyết định quan hệ của họ và những điều kiện theo sau quyết định ấy. Mặt khác, Ngài vẫn sai bảy mươi hai môn đệ đi trước.
 
  1. Sứ mệnh.
  2.  
Họ phải dọn đường cho Ngài. Ngài nói rõ Ngài sẽ đến những nơi họ đến trước. Họ chỉ là sứ giả, còn Ngài mới là Vua. Họ là những người khai phá, tiên phong, mở đường, để chính Ngài sẽ đi trên con đường ấy. Họ làm đất sẵn còn Ngài gieo vãi hạt. Họ dựng khung còn Ngài xây tường. Họ mở cửa để Ngài bước qua. Trách vụ ấy là của mọi chủ chăn, mọi tông đồ giáo dân trong nước Chúa.
 
Con người chẳng thể ban phát của Thánh được mà chỉ được coi là người thừa hành trợ tá thôi. Nước Thiên Chúa không phải do con người lập nên và lời Chúa không thể do con người suy tưởng ra được. Dẫu vậy, Thiên Chúa lại muốn dùng những tạo vật Ngài dựng nên để thực hiện các việc ấy và Ngài còn muốn con số tạo vật ấy phải thật nhiều: ‘Mùa màng nhiều, thợ gặt ít’.
 
Như thế, con người cũng có một vai trò khá quan trọng trong công việc của Chúa, phải xin Chúa ban cho thật nhiều ơn gọi: ‘vậy hãy xin chủ mùa sai thợ gặt đồng lúa của Ngài’. Đã hẳn, Chúa quá rõ việc thiếu các linh mục và thật sự thiếu. Vì nhiều người được gọi mà họ từ chối. Còn nếu bình thường mà vẫn thiếu thì hẳn là do giới trẻ không sống xứng đáng. Vì thế cần phải cầu nguyện cho ơn thiên triệu và như thế là đáp ứng đúng đòi hỏi của Chúa Giêsu.
 
Hai mặt của sứ điệp ban cho các môn đệ là: loan báo Nước Thiên Chúa và chữa lành tật bệnh. Vì thế mới có vấn đề lo cho phần hồn và săn sóc phần xác, đi đến với người mạnh và kẻ yếu, quan tâm đến phần tinh thần và cả đến những phần thuộc trần thế nữa. Và như thế, tức là để ý đến con người toàn diện và toàn thể nhân loại.
 
  1. Mệnh lệnh.
  2.  
‘Này Ta sai các anh như chiên vào giữa sói’. Như vậy không phải là chuyện những con sói này đối địch với những con sói kia, hay một con sói phải đương đầu với bầy sói. Nhưng chính là con chiên vào giữa đàn sói. Chúng ta chẳng thể lấy sức đọ sức, dùng mưu đối mưu, bằng cách lấy sức mạnh của tiền tài và thế lực của các tổ chức, nhưng khí giới của ta là khí cụ bình an, khí cụ kiên tâm chịu đựng đau khổ và hy sinh.
 
Như thế, tỏ rõ cho ta thấy rằng linh mục ở trong thế gian như ‘chi thể xa lạ’, ‘một chiên giữa bày sói’ vừa xa lạ với những người khác, vì thế không thể gây chú ý. Giáo Hội luôn tỏ rõ là không quyền lực đối với các quốc gia, Giáo Hội sẽ được giải thoát, thật tuyệt vọng xét phía nhân loại, thật có cơ biến dạng, duy chỉ có uy lực và quyền thế của Chúa đỡ nâng.
 
‘Đừng mang ví tiền, bao bị, giày, dép’. Như thế là không có vấn đề bảo đảm, an toàn theo kiểu thế tục, cũng không có chuyện đề phòng dự liệu, trang bị cần thiết, tiên liệu những gì có thể xảy ra, võ trang tối thiểu để đối phó với mọi tình huống trắc trở. Kết quả tinh thần không lệ thuộc vào những thành tố ấy cũng như những trở lực ngoại tại.
 
Con người phải đến với người anh em mình với thực chất của mình, thật đơn giản và chân thành, không băn khoăn bối rối, không rào trước đón sau. Tức là, con người sẽ chẳng là chi khác hơn dụng cụ của Thiên Chúa và được sử dụng như tính cách dụng cụ.
 
  1. Định mệnh.
  2.  
Đức Giêsu nói đến sự được đón tiếp và bạc đãi. Tức là, sẽ có những người vì Nước Thiên Chúa, sẵn sàng đón nhận đức tin, và cũng có những người khác cố chấp và dễ dàng từ chối bằng tiếng ‘không’ khô cằn. Sự kiện từ chối ấy quả quá nặng đến nỗi Chúa phải quan tâm đặc biệt. Khi bị từ chối, môn đệ phải rút đi, và phủi chân khỏi bụi của nhà hay làng ấy. Tức là dứt khoát tuyệt giao với họ và tiếp tục lên đường. Họ sẽ tránh khỏi hình phạt và án xử hòng đến.
 
‘Ngày ấy, Sôđôma sẽ được xử khoan dung hơn thành ấy’, khi vinh quang Nước Thiên Chúa tỏ hiện trọn vẹn. Vì trách vụ của mình, môn đệ đặt niềm tin vào Thiên Chúa thì những ai môn đệ đến gặp cũng được ở trong tay Chúa như thế, hoặc bị Ngài phạt hoặc được Ngài thưởng.
 
Các chủ chăn cũng như những giáo dân trợ tá, tất cả những ai đã cam kết phục vụ nước Thiên Chúa, thì đều phải dự đoán được những thành công và thất bại để luôn sẵn sàng với ‘ưng thuận đón tiếp’ cũng như ‘chối từ không nhận’. Thất bại không làm lung lay nao núng, khiếp sợ….
 
Vì thế, Đức Kitô đã cẩn thận tiên báo hết sức rõ ràng, với giọng điệu thật nghiêm nghị. Khi thi hành phận sự nước Chúa. Ai để mình thất vọng tức là đã không am hiểu Tin mừng.
 
Chúng ta không thể lấy mất sự lựa chọn khỏi các cá nhân; chúng ta phải đặt các cá nhân đó đối mặt với sự lựa chọn ấy, là chính sự lựa chọn có giá trị ngàn đời.
 
MÔN ĐỆ (10, 17-20)
 
Sự cao cả của các môn đệ được thể hiện dưới hai phương diện. Trước hết, đó là uy quyền họ được uỷ thác để thi hành nhiệm vụ mình: ‘Thưa Thầy, nhân danh Thầy thì cả ma quỉ cũng phải luỵ phục chúng tôi’. Đức Kitô liền khẳng định: ‘Ta đã thấy Satan như chớp nhoáng từ trời sa xuống. Nầy Ta ban cho các anh quyền dẫm lên rắn rít, bò cạp và trên mọi quyền năng kẻ thù và tuyệt nhiên không có gì làm hại các anh được’.
 
Môn đệ Chúa được chính Chúa nâng đỡ để phục vụ Ngài. Nếu Ngài chẳng tha phép, thì không một tai hoạ nào có thể phạm đến họ được. Vì thế Ngài có trách nhiệm và bổn phận phải lưu tâm đến đó. Tuy nhiên, không phải chỉ mình Chúa mà thôi, những cả những ai được Ngài dùng nhân danh Đức Kitô. Ngài có thể tránh cho họ khỏi ách thống trị của các hung thần, vì Ngài có quyền trên quỉ ma.
 
Thế giới quỉ ma là một thực tại vô hình. Satan là một uy lực thiêng liêng. Bởi thế quyền lực của các môn đệ Chúa không phải là cái từ bên ngoài đụng đến hay áp lực. Dẫu vậy, rõ ràng là những sự việc lại xẩy ra dưới hình thức hữu hình, khiến nhãn quan nhân loại có thể cảm nhận được. Ai chỉ tin vào sức mạnh của thân thể, chỉ tin vào thần tài, vào ảnh hưỡng chính trị, vào quân sư, vào hoàn cảnh xã hội, thì chẳng thể hiểu thực sự được các biến cố ấy.
 
Hoạt động của Giáo Hội được thực hiện theo chiều cao và sâu. Mà chỉ ở đời sau con người mới nhận ra được đặc tính đặc biệt và lạ lùng của uy quyền mà Chúa ban cho Giáo Hội. Tuy nhiên, sự việc được quyền lực ấy chỉ là cái thêm vào. Điều lớn lao hơn là: ‘Hãy vui mừng vì tên các anh đã được ghi trên trời’.
 
Điều làm cho các môn đệ vui mừng, có quyền tự hào và thực sự phấn khởi, không phải là sự lớn lao và sức mạnh của việc họ đã làm, nhưng là mầu nhiệm họ được lựa chọn. Nói tóm, con người chẳng thể tự mình định đoạt đời mình, mà là được chọn; được Chúa ban ơn cho cách nhưng không.
 
Những chọn lựa ấy ở giữa vương quốc tối tăm của Satan và vương quốc huy hoàng của Thiên Chúa. Kẻ được tuyển chọn, được làm con sự sáng. Không phải chỉ có hoạt động thôi, nhưng cả đời sống vượt khỏi những giới hạn hẹp hòi, thế trần. Danh tánh kẻ ấy ‘được ghi trên trời’. Bởi vậy, xét theo mục đích và bản chất, sự việc môn đệ được kêu gọi, quả là một sự cao cả đặc biệt.
 
 
 

32. Bình an đích thực.
 
Vào năm 1980, có một tuần báo nọ tại Hoa Kỳ đã đăng tải một sự cố sau đây: Một người vừa mua hàng trong siêu thị xong, trở lại xe mình thì ngạc nhiên nhìn thấy một tờ giấy để lại nằm ngay trên chỗ ngồi của người lái, trên đó có những dòng chữ viết vội như sau:
 
Thưa ông bà, tôi có ý định đánh cắp chiếc xe này, nhưng khi nhìn thấy lời chào chúc của ông bà gắn nơi tay lái: “Bình an của Chúa ở cùng bạn”, thì tôi bỗng dừng lại và suy nghĩ. Ý nghĩ xuất hiện trong đầu óc tôi là nếu tôi đánh cắp chiếc xe này thì chắc chắn ông bà mất xe và không có sự bình an, tôi đây cũng sẽ không có sự bình an. Đây là lần đầu tiên tôi bước vào nghề ăn cắp xe.
 
Xin chúc ông bà và cho cả tôi nữa sự bình an của Chúa. Chúc ông bà lái xe an toàn và lần sau xin nhớ khóa cửa xe.
 
Ký tên: Người sắp trở thành kẻ trộm xe.
 
Câu chuyện nhỏ này làm chúng ta chú ý đến một trong những lời dạy của Chúa Giêsu cho các môn đệ khi sai họ ra đi truyền giáo đến trước những nơi mà Chúa sẽ đi qua để chuẩn bị cho Chúa đến: “Vào nhà nào chúng con hãy chúc: Bình an cho tất cả mọi người trong nhà này”.
 
Chỉ một khẩu hiệu dán nơi tay lái chiếc xe: “Cầu chúc bình an” mà bỗng tác động biến đổi ý định xấu của một người không làm việc xấu xa nữa, thì thử hỏi nếu những đồ đệ của Chúa, chính chúng ta đây, nếu chúng ta thực sự trở thành những dấu chỉ sự bình an của Chúa cho anh chị em, và không phải chỉ là dấu chỉ mà thôi mà còn là tác nhân sống động mang sự bình an của Chúa đến cho anh chị em xung quanh mà ta thường gặp hằng ngày; nếu chúng ta thực hiện được điều này thì thử hỏi ta có thể đóng góp phần tích cực của mình cho sự bình an của anh chị em nơi môi trường chúng ta sinh sống biết là chừng nào.
 
Lời Chúa dạy cho các đồ đệ chúc “bình an cho nhà này” là tiếng vang trước cho lời chúc bình an của Chúa Giêsu Phục sinh trước khi sai các tông đồ ra đi làm chứng cho Tin Mừng của Chúa: “Bình an cho chúng con”. Chắc chắn khi nghe những lời chúc của Đấng Phục sinh: “Bình an cho chúng con”, các tông đồ nhớ lại lời dạy trước lúc Phục sinh của Chúa, khi Chúa sai các ngài đi thực tập trước công việc truyền giáo mà các ngài sẽ chu toàn sau biến cố Phục sinh: “Vào nhà nào, chúng con hãy cầu chúc: bình an cho nhà này. Bình an cho chúng con”.
 
Chúa Phục sinh ban sự bình an thật cho các tông đồ, để các ông ra đi và đến phiên các ông, các ông cũng sẽ cầu chúc như Chúa đã chúc: “Bình an cho nhà này”. Các ông nói như Chúa đã nói, làm các công việc và những việc lạ như Chúa đã làm, hay đúng hơn theo như lời Chúa nói là hơn cả những gì Chúa đã làm nữa: “Bình an cho chúng con. Bình an cho nhà này”.
 
Ước gì mỗi người chúng ta được thật sự lãnh nhận ơn bình an của Chúa, ơn bình an mà Chúa đã phải chết trên thập giá để thực hiện cho chúng ta, cho tất cả mọi người. Ước gì mỗi người chúng ta trước hết lãnh nhận ơn bình an đó của Chúa và để cho ơn bình an, ơn cứu rỗi thánh hóa, biến đổi chúng ta để rồi chúng ta có thể nói và làm như Chúa đã nói và làm “Bình an cho nhà này. Bình an cho chúng con”.
 
Người truyền giáo phải là kẻ nói những lời bình an, thực hiện những sự bình an, trao ban sự bình an của Chúa cho anh chị em. Chúng ta cần kiểm điểm lại lời nói và việc làm của mình xem có phải là lời nói và việc làm như Chúa hay không? Đó là “Bình an cho anh chị em. Bình an cho nhà này”.
 
Chúng ta hãy đến lãnh nhận ơn bình an của Chúa: “Thầy ban cho chúng con bình an của Thầy”, để rồi chúng ta cũng có thể trao sự bình an đó cho anh chị em xung quanh.
 
Lạy Chúa, xin đừng chấp tội lỗi chúng con, nhưng xin thương ban bình an cho chúng con, cho Hội Thánh Chúa. Xin biến đổi mỗi người chúng con trở thành những chứng nhân của sự bình an, trở thành khí cụ bình an của Chúa để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem niềm vui đến chốn u sầu. Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa, bình an cho anh chị em, bình an cho chúng con, bình an cho nhà này. Amen.
 
 
 

33. Người rao giảng
 
Chỉ có mình thánh Luca ghi lại việc sai phái bảy mươi hai môn đệ đi trước sửa soạn cho Chúa Giêsu đến. Điều này phù hợp với việc Chúa kéo dài cuộc hành trình trên đường về Giêrusalem. Công tác của họ chỉ trong một thời gian hạn định, nhưng trong lời huấn thị đưa ra cho họ, Chúa Giêsu đã đưa ra những nguyên tắc căn bản áp dụng cho mọi thời. Trước hết Ngài tỏ cho biết lý do của sự lựa chọn họ: lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Trước khi thế gian nhận được sứ điệp họ mang tới, họ và những người kế vị họ phải tha thiết cầu nguyện với Chúa mùa gặt sai thợ đến. Đó là một lời cầu nguyện mà mọi kẻ phụng sự Chúa Kitô phải dâng lên tự đáy lòng mình. Lòng yêu mến của chúng ta đối với Chúa sẽ khiến chúng ta cố gắng hoàn thành công tác mau chóng hơn, và muốn được vậy cần phải có đông công nhân hơn.
 
Đối với người Do Thái, số bảy mươi hai là số biểu tượng. Đó là số các trưởng lão đã được lựa chọn để giúp đỡ lãnh tụ Môsê, với phận sự điều khiển, hướng dẫn dân chúng trong sa mạc. Đó là số thành viên của Hội đồng quốc gia. Nếu số bảy mươi hai chỉ đoàn thể nào trong hai đoàn thể đó thì họ cũng là phụ tá cho Chúa Giêsu. Số đó cũng được coi như số các nước trên thế giới lúc bấy giờ. Luca là người có tầm mắt quốc tế, có lẽ ông đang nghĩ đến một ngày mà mọi nước trên thế giới sẽ nhận biết và yêu mến Chúa Giêsu, như ông đang yêu mến Ngài vậy.
 
Đoạn Kinh Thánh cho ta biết mấy điều hết sức quan trọng về người truyền đạo cũng như thính giả.
 
1) Người rao giảng khi ra đi phải sẵn sàng chấp nhận sự hiểm nguy “như chiên giữa bầy muông sói”, nhưng họ cũng đừng để cho lòng bối rối vấn vương vào những sự thế tục. Sứ giả cần lên đường cách nhẹ nhàng.
 
2) Người rao giảng cần phải chú tâm vào bổn phận của mình, đừng phí thời giờ vào những nghi lễ lạt lẽo vô vị, nhưng phải ra đi như những con người được thúc giục bởi một động lực cao cả; “Người ấy không được chào ai dọc đường”; điều này nhắc lại lời tiên tri Êlisa bảo tên đầy tớ Giêkhađi đi giúp cho bà ân nhân đất Sunêm khi đứa con đã chết: “Hãy thắt lưng, cầm gậy của ta mà đi! Gặp ai thì đừng có chào, ai chào thì đừng đáp lại” (2V4,29). Đó không phải là dạy làm điều bất lịch sự nhưng là người của Thiên Chúa không nên quay ngang hoặc trì trệ vì những điều nhỏ nhặt đang khi những việc lớn chờ đợi kêu gọi mình.
 
3) Người rao giảng không nên làm việc để kiếm tư lợi. Người ấy nên ăn những món người ta dọn cho mình, không nên đi từ nhà này qua nhà khác cố ý tìm nơi dễ chịu hơn, đầy đủ tiện nghi hơn. Chẳng bao lâu sau khi Hội Thánh được thiết lập đã có những hạng người ăn bám. Cuốn “Giáo lý của mười hai tông đồ” được viết khoảng năm 100 là cuốn sách về trật tự Hội Thánh đầu tiên. Trong thời đó có những tiên tri đi lang thang từ thành này sang thành khác. Sách đã quy định rằng, nếu vị tiên tri nào muốn ở lại nơi nào lâu hơn ba ngày mà không có việc làm thì kẻ ấy là tiên tri giả, và nếu tiên tri nào xưng mình ở trong Thánh Linh mà xin tiền hay xin thức ăn thì kẻ ấy là tiên tri giả. Người thợ đáng lãnh tiền công, nhưng đầy tớ của Đấng chịu đóng đinh không thể là một kẻ say mê lạc thú.
 
Ngay từ khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, người Kitô hữu đã được Chúa Cứu Thế kêu mời thi hành sứ mệnh: “Hội Thánh nhân danh Thiên Chúa hết sức kêu mời tất cả các giáo dân, hưởng ứng sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, hãy mau mắn, đại độ và sẵn sàng đáp lại tiếng gọi của Chúa Kitô, Đấng giờ đây đang thiết tha mời gọi họ. Ước gì giới trẻ hiểu rằng lời mời gọi của Người được đặc biệt gởi tới họ và ước gì họ vui mừng quảng đại đón nhận. Quả thật chính Chúa Giêsu một lần nữa nhờ Thánh Công Đồng này, mời gọi tất cả các giáo dân hãy kết hợp với Người ngày một mật thiết hơn và nhận thức được những gì của Người cũng là của chính mình (Ph 2,5). Họ hãy tham gia vào sứ mạng cứu rỗi của chính Người và một lần nữa Ngài sai họ đi tới các thành và những nơi Người sẽ đến. Như thế giáo dân hãy chứng tỏ mình là cộng tác viên của Chúa Giêsu cộng tác vào cùng một công việc tông đồ của Giáo Hội bằng nhiều hình thức và phương tiện khác nhau. Những cộng tác viên phải luôn thích nghi với những đòi hỏi mới của thời đại và không ngừng ra sức phục vụ Chúa bởi biết rằng khó nhọc của mình không phải là uổng phí trong Người” (TĐ33).
 
Đức Kitô muốn thông ban cho các môn đệ lòng can đảm trong việc tông đồ nên khi Ngài nói “Ta sai các con” điều mà thánh Gioan Kim Khẩu chú giải: “Điều này đủ cho các ngươi được can đảm, điều này làm cho các ngươi được tin tưởng”. Các sứ giả được can đảm vì ý thức rằng mình được Thiên Chúa sai đi, như sau này Phêrô giải thích rõ ràng cho Thượng Hội Đồng ông hành động như thế nhân danh Đức Giêsu Nagiarét, “vì dưới gầm trời này không có danh nào khác khiến người ta được cứu rỗi”. Rồi thánh Grêgôriô Cả thêm vào để giải thích huấn thị của Chúa: Đừng mang bao bị giày dép, đừng chào hỏi ai dọc đường, Người rao giảng phải đặt niềm tin vào Chúa tới độ dầu không trang bị cho mình những nhu cầu để sống, vẫn xác tín rằng sẽ không thiếu. Thật thế, nếu Ngài bận tâm cho những sự thế tục, Ngài sẽ không thể ban phát chung quanh Ngài những sự trên trời. Truyền giáo đòi hỏi một sự hiến thân bao gồm sự từ bỏ, thế nên thánh Phêrô là người đầu tiên thực hành lời dạy của Chúa và đã nói với người hành khất ở Cửa Đẹp đền thờ: “Vàng bạc thì tôi không có”. Thánh Ambrôsiô thêm vào “không phải để phô trương sự nghèo khó, nhưng đúng hơn để vâng phục lệnh Chúa, dường như Ngài muốn bảo anh: Thấy tôi là một môn đệ của Đức Kitô mà anh lại xin tiền à? Chúng ta có thể cho anh ta cái gì còn có giá trị hơn vàng bạc nữa; quyền năng hành động nhân danh Chúa. Tôi không có cái mà Chúa Kitô không cho tôi, nhưng tôi có cái mà Ngài cho tôi: nhân danh Chúa Giêsu thành Nagiarét anh hãy dậy mà đi”. Do đó, việc truyền giáo đòi hỏi phải siêu thoát của cải vật chất, cũng như phải luôn luôn mau lẹ sẵn sàng vì công việc cấp bách.
 
“Đừng chào hỏi ai dọc đường”. Thánh Ambrôsiô tự hỏi “Sao lại thế? Chúa lại bỏ qua một việc xã giao thường tình? Nhưng phải để ý Chúa không bảo đừng chào ai nhưng bảo đừng chào ai dọc đường, không thừa đâu!
 
Khi tiên tri Êlia sai tên đầy tớ đi cứu giúp đứa con bà góa bằng cách để cây gậy của vị tiên tri trên đứa bé đã chết, ông cũng ra lệnh đừng chào hỏi ai dọc đường: Ông có ý bảo phải mau mau cứu bé sống lại, đừng để chậm trễ vì những người cùng đi đường với mình. Như thế không phải bỏ qua hết phép lịch sự xã giao, nhưng hạn chế những gì ngăn trở để việc phục vụ được mau lẹ. Khi Thiên Chúa đã bảo, điều gì thế tục phải tạm thời để qua một bên, chào hỏi nhau là tốt, nhưng tốt hơn là thi hành cho mau điều Chúa dạy vì chậm trễ có thể trở nên vô ích.
 
Về phần thính giả, lời Chúa hôm nay dạy rằng nghe lời Thiên Chúa là một trách nhiệm lớn. Người ta sẽ chịu phán xét theo những gì mình đã may mắn biết được. Chúng ta không chấp trách trẻ con điều mà chúng ta kết án người lớn, chúng ta tha thứ cho người man ri những thái độ, hành động mà nếu xảy ra nơi người văn minh thì bị trừng phạt. Trách nhiệm là mặt trái của đặc ân. Chối bỏ lời mời của Thiên Chúa là một tai họa. Ở một phương diện thì mỗi lời hứa của Chúa có thể thành lời buộc tội cho người nào nghe đến. Nếu người ấy tiếp nhận các lời hứa đó thì quả thật đó là sự vinh hiển nhất, nhưng nếu người ấy xén bỏ đi, thì một ngày kia, lời ấy sẽ là chứng cớ nghịch lại cùng người ấy vậy.
 
Bảy mươi hai môn đệ trở về với vẻ mặt sáng rỡ vì những chiến thắng đã dành được trong danh Chúa. Ngài nói với các ông một câu khó hiểu: “Ta thấy satan bị tấn công và nước Thiên Chúa xuất hiện”. Nó có thể có nghĩa là Chúa Giêsu biết rằng nhát đòn tử thương đã giáng xuống satan và các quyền lực của nó, tuy rằng chiến thắng cuối cùng có thể còn trì hoãn lâu.
 
Nhưng câu đó cũng có thể là lời cảnh báo cho tính kiêu căng. Vì do kiêu ngạo satan chống nghịch Thiên Chúa, nên đã bị ném ra khỏi trời. Có thể Chúa Giêsu ngụ ý cùng bảy mươi hai môn đệ rằng: “Các ngươi đã thu hoạch được nhiều thắng lợi, hãy giữ mình kẻo sinh kiêu ngạo”. Chúa Giêsu luôn cảnh báo các tôi tớ Ngài về tội kiêu ngạo và quá tự tín. Quả thực họ được Chúa ban cho mọi quyền phép, nhưng vinh hiển lớn nhất của họ là được ghi tên vào sổ trên trời. Có một điều mãi mãi là sự thật, ấy là vinh hiển lớn nhất của con người không phải là những gì mình đã làm được, mà là những gì Chúa đã làm cho mình. Có người cho rằng việc khám phá ra thuốc mê đã giúp con người giảm bớt đau đớn nhiều hơn bất cứ khám phá nào khác trong y khoa. Một hôm có người hỏi James Simpson: “Ông cho điều gì là khám phá lớn nhất của ông?” và mong đợi câu trả lời rằng: “Thuốc mê”, vì chính ông là người đã khám phá ra môn thần dược này. Nhưng Simpson đã trả lời: “Khám phá lớn nhất của tôi là Chúa Giêsu, Chúa Cứu Chuộc của tôi”. Tính kiêu ngạo đã cản đường lên thiên đàng, nhưng đức khiêm nhường là giấy thông hành để được gặp Chúa.
 
Chúa sửa sai thái độ của các môn đệ khi chỉ cho các ông lý do thật để vui mừng, đó là niềm hy vọng đạt nước thiên đàng chứ không phải trong quyền năng làm phép lạ, khi Người trao sứ mạng này cho các ông. Trong dịp khác, Chúa cũng cho một bài học tương tự (Mt 7,22-23). Trước mắt Chúa, thi hành ý Ngài quan trọng hơn là làm phép lạ.
 
 
 

34. Chúa Nhật 14 Thường Niên
 
“Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 8). Kitô giáo là ngôn ngữ của tình yêu mà Thiên Chúa đã nói qua người Con của Ngài, Chúa Giêsu Kitô. Chúa Giêsu là sứ giả của Thiên Chúa Cha, là Người Con Yêu Dấu, trong Chúa Giêsu, Đức Chúa Cha đặt trọn vẹn tất cả tình yêu thương của mình. Chúa Giêsu đến trần thế để mang tình yêu đó cho nhân loại (Ga 3, 16). Vì tình yêu luôn luôn đòi hỏi phải chia sẻ và ban phát, cũng như chính Chúa Giêsu đã tự ý hy sinh bản thân mình cho nhân loại, và mọi tạo vật đều được mời gọi tham gia chia sẻ vào sự sống và tình yêu của Thiên Chúa. Do đó, Chúa Giêsu không ước mốn sự gì khác ngoài việc nhìn thấy tình yêu Thiên Chúa càng ngày càng lan rộng khắp mặt đất, giống như ngọn lửa cháy lan toả ra khắp nơi “Ta đến để ném lửa vào mặt đất, và ước mong lửa ấy đã bùng lên” (Lc 12, 49)
 
Để ngọn lửa tình yêu của Thiên Chúa bùng cháy lên trong tim mọi người, Chúa Giêsu chọn 72 môn đệ và sai họ đi vào thế giới để rao giảng Tin mừng về Nước Thiên Chúa với lời nhắc nhở: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Nầy Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói” (Lc 10, 2-3). Các môn đệ đã được kêu gọi để chứng tỏ tình yêu trong mọi khía cạnh của đời sống chứng nhân của mình. Họ ra đi từng hai người một là dấu chỉ sự hiệp nhất của các môn đệ Chúa Kitô. Họ phải mời gọi và cầu xin Thiên Chúa ban thêm các tông đồ của tình yêu trên cánh đồng truyền giáo. Họ phải cố gắng bắt chước sự hiền hoà của con chiên để tha thứ và chấp nhận sự bạc đãi của sói rừng, ngay cả sự chết như thánh Gioan đã dạy: “Căn cứ vào điều này, đó là Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em” (1Ga 3, 16). Giống như những môn đệ của Chúa Giêsu, sứ mệnh truyền giáo của chúng ta không phải là dùng sức mạnh của bạo lực để bẻ gẫy những con tim, nhưng chinh phục những con tim bằng cách làm chúng phải tự chảy mềm ra, mềm lại dưới ảnh hưởng của tình yêu Thiên Chúa (GLCG 2104-2109).
 
Khi sai 72 môn đệ ra đi, Chúa Giêsu cũng cảnh giác họ rằng: “Ta sai các các con như con chiên ở giữa sói rừng” (Lc 10, 3). Sói rừng biểu tượng cho những quyền lực chống lại Tin mừng, những sự bắt bớ cấm cách, những thử thách, và những đối xử bất công. Thiên Chúa là Tình yêu, nhưng Ngài cũng rất công bằng chính trực. Quả vậy, Chúa Giêsu đã dặn các môn đệ: “Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép” (Lc 10, 4). Nhiều người nghĩ rằng Ngài muốn đề cao sự nghèo khó của các nhà truyền giáo. Hiểu như thế cũng có ý nghĩa, nhưng đây không phải là ý của Ngài. Ngài dặn họ đừng mang theo vì chính những người đón tiếp các môn đệ có bổn phận phải cung cấp cho các ngài những thứ cần thiết này. Nói một cách khác, Chúa kêu gọi giáo dân phải rộng lượng và quảng đại đối với những người làm công cho Vương Quốc Thiên Chúa. Tư tưởng của Chúa Giêsu đã được giải thích rất rõ ràng trong câu 7: “Vì người thợ đáng được trả công” (Lc 10,7).
 
Nhân dịp suy gẫm bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta cũng phải xét lại lương tâm của chúng ta trong việc đóng góp cho sứ mệnh truyền giáo và xây dựng Vương Quốc Thiên Chúa (1 Cr 9, 16). Tư tưởng gia Jean Jacques Rousseau đã kể lại lời khuyên nhủ rất khôn ngoan cho chúng ta như sau: “Khi chết, mỗi người sẽ chỉ mang theo được trong lòng hai bàn tay nắm chặt cái mà người ấy đã cho đi” (1Tm 6, 7-9).
 
Trong Sứ Điệp Khánh Nhật Truyền Giáo 2003, ĐGH Gioan Phaolô II, số 4 có nói: “Qua phép Rửa Tội, tất cả các tín hữu được mời gọi nên thánh”. Trong Hiến Chế Tín Lý Lumen Gentium, Công Đồng Vaticanô II nhấn mạnh rằng ơn gọi nên thánh phổ quát bao gồm trong lời mời gọi mọi người tiến đến sự trọn hảo của lòng bác ái. Sự nên thánh và sứ mạng truyền giáo là những khía cạnh bât khả phân ly của ơn gọi dành cho mọi người đã chịu phép rửa. Cam kết trở nên thánh thiện hơn đuợc liên kết chặt chẽ với sứ mạng truyền bá thông điệp cứu độ. Trong Thông Điệp Redemptoris Missio, đoạn 90, tôi đã nhắc lại rằng; “Mọi tín hữu được mời gọi đến với sự thánh thiện và sứ mạng truyền giáo”.
 
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con quảng đại đáp trả làm chứng nhân cho Chúa. Xin cho có nhiều tâm hồn quảng đại đáp lời mời gọi bước theo Chúa. Amen.
 
 
 

35. Người môn đệ
 
Nếu bây giờ tôi đặt câu hỏi: có khi nào chúng ta đã nghĩ tới bổn phận truyền giáo, bổn phận làm việc tông đồ hay chưa?
 
Chắc hẳn có người sẽ trả lời: Việc tông đồ, việc truyền giáo là bổn phận của các linh mục và tu sĩ, còn chúng tôi lăn lóc giữa đời, bận rộn với trăm công nghìn việc, còn thời giờ đâu đề nghĩ tới chuyện ấy.
 
Dĩ nhiên, sứ mạng chính yếu của các linh mục và tu sĩ là hoạt động tông đồ, dẫn đưa mọi người trở về cùng Chúa. Tuy nhiên, là người giáo dân, chúng ta cũng có bổn phận phải góp phần vào công cuộc trọng đại ấy.
 
Thực vậy, tin mừng hôm nay cho thấy ngoài mười hai tông đồ, Chúa Giêsu còn chọn thêm bảy mươi hai môn đệ và sai họ đi từng hai người một, đến những nơi chính Ngài sẽ tới. Ngài bảo các ông: Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít.
 
Dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù sống bằng bất cứ nghề nghiệp nào, chúng ta vẫn có thể và phải góp phần vào công cuộc truyền giáo. Chúng ta có thể và phải là người tông đồ ngay chính giữa lòng cuộc đời của mình. Vậy chúng ta thực hiện lý tưởng ấy như thế nào? Tôi xin thưa hãy truyền giáo bằng chính cuộc sống đạo đức và yêu thương của mình, bởi vì nhờ đó, chúng ta sẽ trở nên một tin mừng sống động, một phản ảnh trung thực của Đức Kitô.
 
Trước hết bằng một cuộc sống đạo đức.
 
Tục ngữ Việt Nam đã bảo: cái nết đánh chết cái đẹp. Vẻ đoan trang thùy mị của chúng ta sẽ là một mối duyên ngầm, chinh phục được cảm tình của người khác. Lời nói như gió lung lay, việc làm như tay lôi kéo. Chính gương sáng mới là một bài giảng hùng hồn có sức lôi cuốn và hấp dẫn người khác. Đứng trước gương sáng của chúng ta, kẻ độc ác nhất cũng phải xúc động và đặt lại vấn đề. Có những người trở lại chỉ vì thấy một em nhỏ ngoan ngoãn, lễ độ và siêng năng tới nhà thờ tham dự thánh lễ. Có một thanh niên được mọi người yêu quí vì anh ta lịch sự, sẵn sàng giúp đỡ những người chung quanh bất cứ việc gì. Anh ta không phải chỉ tỏ ra mình là người công giáo, mà hơn nữa, anh ta còn sống niềm tin của mình. Nói cách khác, anh ta đã sống đạo và người ta có thể bảo: Hình ảnh Đức Kitô luôn phảng phất nơi anh ta..
 
Tiếp đến bẵng một cuộc sống ngập tràn tình bác ái yêu thương.
 
Thực vậy, bằng một đời sống đạo đức, chúng ta trở nên tông đồ của Chúa giữa lòng cuộc đời. Tuy nhiên, tinh thần đạo đức ấy phải được biểu lộ ra bên ngoài bằng những lời nói, những việc làm của chúng ta.
 
Trong cuộc sống, chúng ta có rất nhiều cơ hội để dẫn đưa những kẻ lầm đừng lạc lối trở về cùng Chúa, để cứu vớt những linh hồn đang chìm sâu trong tội lỗi. Bằng lời nói chia sẻ và cảm thông, chúng ta có thể làm cho người khác khỏi cô đơn chán nản. Bằng lời nói an ủi và khích lệ, chúng ta có thể làm cho người khác khỏi bi quan tuyệt vọng. Bằng lời nói chân thành và xây dựng, chúng ta có thể làm cho người khác thoát khỏi chốn bùn nhơ tội lỗi. Bằng lời nói khuyên răn nhủ bảo, chúng ta có thể làm tông đồ cho Chúa trong gia đìnhminh cũng như trong môi trường mình đang sống. Có nghĩa là ở khắp mọi nơi.
 
Tinh thần đạo đức còn phải được biểu lộ qua những cử chỉ, những việc làm của chúng ta. Mấy người bạn tụ họp và trao đổi những câu chuyện thiếu đứng đắn, nếu bấy giờ có được thái độ nghiêm túc, chúng ta sẽ làm cho họ phải dừng lại. Khi người khác bài bác tôn giáo, chúng ta không được phép yên lặng, vì yên lặng khi phải nói là một tội cũng nặng như nói khi phải yên lặng. Trái lại, chúng ta hãy lên tiếng bênh vực đức tin, dù có làm mất lòng bè bạn. Trong trường hợp này, chúng ta không sợ ai cả, mà chỉ sợ một mình Thiên Chúa, như lời thánh Cyprianô: Hãy sợ Thiên Chúa và rồi chúng ta sẽ chẳng còn phải sợ một ai cả.
 
Một cô y tá có thể truyền giáo bằng thái độ ân cần, bàng nụ cười cảm thông, bằng ánh mắt khích lệ, bằng cử chỉ sẵn sàng giúp đỡ những người đau yếu. Và như vậy, chúng ta có thể dùng những hành động bác ái yêu thương để cảm hóa người khác, vì bác ái yêu thương là dấu chỉ chắc chắn nhất giúp người khác nhận ra khuôn mặt Đức Kitô.
 
Nếu không phải là một trong số mười hai tông đồ, thì ít nữa chúng ta cũng phải là một trong số bảy mươi hai môn đệ. Sứ mạng truyền giáo không phải chỉ là sứ mạng dành riêng cho linh mục và tu sĩ, nhưng còn là bổn phận chung của mỗi người chúng ta. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ở bất kỳ địa vị nào, làm bất cứ nghề nghiệp nào, chúng ta cũng có thể và phải góp phần vào công cuộc truyền giáo, bằng một đời sống đạo đức và nhất là bằng những hành động bác ái yêu thương.
 
Ở Pêru có một loại cây rất ngộ nghĩnh, người ta bản xứ gọi nó là “cây làm mưa”. Lá nó hút hơi nước trong không khí, rồi nhỏ xuống như những giọt sương mai. Vì thế, chung quanh nó mặt đất lúc nào cũng ẩm ướt. Và trời càng nóng, thì nó càng nhỏ xuống nhiều nước.
 
Mỗi người chúng ta cũng phải trở nên như một cây làm mưa hữu ích cho những người chung quanh đang khô khan. Bằng đời sống đạo đức, chúng ta hút lấy ơn sủng của Chúa, để rồi bằng những hành động bác ái yêu thương, chúng ta gieo vãi ơn sủng ấy cho những người chung quanh.
 
Chúng ta sống đức tin, để rồi nhờ đó chúng ta làm cho đức tin sống lại trong tâm hồn người khác. Đồng thời, khi làm cho người khác sống đức tin, thì đức tin của chúng ta sẽ trờ nên mạnh mẽ hơn. Cũng vậy, muốn được hạnh phúc, thì chúng ta hãy cố gắng làm cho người khác được hạnh phúc. Niềm hạnh phúc chúng ta làm cho người khác sẽ trở lại với chúng ta và làm cho chúng ta được hạnh phúc hơn.
 
 
 

36. Truyền giáo bằng đời sống
 
Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít.
 
Trong suốt cuộc sống công khai, Chúa Giêsu đã rảo khắp các nẻo đường xứ Palestine để rao giảng Tin Mừng. Đồng thời, Ngài cũng đã chọn lựa và sai phái các môn đệ ra đi, để tiếp tay với Ngài trong sứ mạng cao cả ấy.
 
Tuy nhiên những cố gắng ấy dường như không đáp ứng nổi với nhu cầu khẩn thiết, vì thế mà Chúa đã nói:
 
– Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ tới gặt lúa.
 
Trải qua dòng thời gian, lời xác quyết này vẫn còn là một sự thật, bởi vì ngày hôm nay con số những người tin nhận Chúa mới chiếm được 30%, và riêng những người Công giáo thì mới chỉ được có 17% dân số trên thế giới.
 
Đồng thời qua lời xác quyết ấy, Chúa cũng muốn kêu mời chúng ta hãy trở nên là những người thợ gặt của Chúa. Có nghĩa là, chúng ta cũng hãy góp phần vào việc truyền bá đức tin, làm cho Giáo hội được phát triển. Dĩ nhiên chúng ta có rất nhiều phương pháp để rao giảng Tin Mừng.
 
Chẳng hạn bằng việc ra đi như các tông đồ các vị thừa sai, bằng việc cầu nguyện như các vị tu sĩ trong dòng kín… Thế nhưng, hôm nay tôi muốn giới thiệu tới quí ông bà một phương pháp mà mỗi người chúng ta đều có bổn phận phải thực hiện, đó là truyền giáo bằng chính đời sống, bằng chính gương sáng của chúng ta.
 
Để hiểu được hậu quả tốt đẹp mà phương pháp này đem lại, tôi xin kể hai mẩu chuyện nho nhỏ.
 
Mẩu chuyện thứ nhất đó là có một người Tin Lành, nghe tiếng cha Vianney là một người đạo đức thánh thiện, bèn tìm đến xứ Ars để kiểm tra sự thật. Sau khi ra về, người ta hỏi ông đã thấy được những gì, thì ông trả lời:
 
– Tôi đã thấy Thiên Chúa trong một người.
 
Và sau đó thì ông đã trở lại với Giáo hội Công giáo.
 
Mẩu chuyện thứ hai đó là có một người khô khan nguội lạnh, tình cờ đi ngang qua nhà thờ, ông thấy một cô bé đang dẫn mấy em nhỏ vào nhà thờ. Ông đứng quan sát và rồi đã đi theo cô bé. Thấy nét mặt trang nghiêm và sốt sắng của cô bé khi cầu nguyện, ông đã thực sự xúc động, và rồi cuối cùng, ông cũng đã trở về cùng Chúa.
 
Với hai mẩu chuyện này chúng ta thấy được sức cảm hóa của gương sáng như thế nào. Tục ngữ Việt Nam cũng bảo:
 
– Lời nói như gió lung lay, việc làm như tay lôi kéo.
 
Hay như một câu danh ngôn cũng đã nói:
 
– Gương sáng chính là một bài giảng hùng hồn nhất, có sức lôi cuốn và thuyết phục người khác.
 
Đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương của chúng ta chính là một thứ ánh sáng cần thiết cho xã hội như lời Chúa đã phán:
 
– Các con là ánh sáng thế gian. Bởi vì nhờ các việc chúng ta làm mà người khác sẽ nhận ra sự hiện diện của Chúa, để rồi cũng sẽ tin nhận Ngài.
 
Giữa một thế giới đã xa lìa Thiên Chúa, đang chìm dần vào sa đọa và tội lỗi, thì chúng ta có bổn phận phải thắp lên một ngọn lửa, chứ đừng ngồi đó mà rủa xả bóng đêm.
 
Và ngọn lửa chúng ta thắp lên là gì? Tôi xin thưa đó chính là đời sống gương mẫu của mỗi người chúng ta.
 
 
 

37. Chọn lựa các môn đệ – Veritas.
 

(Trích dẫn từ ‘Hãy Ra Khơi’)
 
Bà Tôrôtê đã nhận định thật hay về cuộc đời của một người sống theo lý tưởng như sau: Ai mang theo tất cả mọi sự với mình thì sẽ để lại sau rất ít, và do đó, người đó trước sau vẫn y nguyên như vậy, không có gì thay đổi và có rất ít cả thể để tìm gặp kẻ đó đang tìm kiếm. Một người không biết hy sinh gì cả thì sẽ không gặp được gì. Để gặp được điều ta tìm kiếm thì điều kiện phải có là biết từ bỏ hoàn toàn, lừng chừng thỏa hiệp nửa vời sẽ mang đến tàn phá mà thôi.
 
Nếu những dòng diễn tả trên diễn tả đúng cho cuộc sống theo lý tưởng nào đó thì nó lại càng đúng hơn nữa cho cuộc sống của người đồ đệ của Chúa mà bài Phúc âm hôm nay muốn nhắc lại cho chúng ta một vài đặc điểm.
 
Khi Chúa Giêsu sai 72 môn đệ ra đi rao giảng Tin Mừng, đặc điểm nổi bật nhất dĩ nhiên phải là sự từ bỏ, để lại đàng sau nhiều điều, nếu không muốn nói là tất cả mọi điều, để chỉ có Chúa và sự công chính của Chúa trước hết. Ai muốn mang theo mọi sự với mình thì sẽ để lại rất ít. Rất ít có cả thể gặp được điều mình tìm kiếm. Người sống ích kỷ muốn mang theo tất cả mọi sự cho mình thì sẽ để lại rất ít, nhất là khi chết rồi thì chẳng còn gì và sẽ có rất ít cả thể gặp được điều mình tìm kiếm. Sẽ có rất ít cả thể để theo Chúa cho đến cùng, để sống trọn vẹn cuộc đời theo Chúa.
 
Chúa Giêsu ý thức rõ ràng cuộc đời của môn đệ gặp nhiều thử thách. Ngài sai các ông ra đi như chiên vào giữa sói rừng, nhưng Chúa vẫn đòi hỏi môn đệ phải có thái độ từ bỏ những an toàn của con người và do con người tạo ra, đó là tiền, bao bị, giầy dép và liên lạc xã giao thường tình. Chúa sai các ngài ra đi với lời căn dặn: “Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép và đừng chào hỏi ai dọc đường”. Đây là những điểm nói lên sự an toàn của con người, do con người tạo ra và Chúa muốn cho những đồ đệ của Ngài ra đi làm những công việc của Ngài, không ỷ lại vào những sự an toàn của con người, do con người tạo ra.
 
Thật là những lời khuyên, những mệnh lệnh, xét theo thường tình con người thì rất là ngược đời, nếu không muốn nói là không khôn ngoan chút nào hoặc không thể thực hiện được. Nhưng Chúa Giêsu giõng dạc thay đổi nhằm đến một thái độ từ bỏ, không ỷ lại vào những sự an toàn của cuộc sống.
 
Một nhà truyền giáo tương lai sắp sửa lên đường viết thơ cho vị giám mục như sau để hỏi về những điều cần thiết cho cuộc sống của mình trước khi lên đường đến nhận nhiệm sở, nhà truyền giáo đó hỏi:
 
– Có xe để di chuyển không?
 
– Nhà ở có máy lạnh không?
 
– Có người giúp nấu cơm cho ăn hay không?
 
– Trong nhà có tủ lạnh hay không?
 
– Có tiền lương mỗi tháng bao nhiêu?
 
– Có được đi nghỉ hè mỗi năm không? v.v…
 
Dĩ nhiên nhà truyền giáo đó muốn cho mình mọi sự an toàn trước khi dấn thân. Nhà truyền giáo đó đã nhận được thơ trả lời rất nhanh của vị Giám mục yêu cầu đừng đến làm việc truyền giáo nơi giáo phận của ngài nữa.
 
Phải chăng, chính bản thân chúng ta cũng dễ dàng bị cám dỗ bởi những đòi hỏi tiện nghi vật chất cho cuộc đời theo Chúa của mình. Muốn có thật nhiều thì rốt cuộc chẳng có bao nhiêu. Đó là về thái độ sống của người đồ đệ của Chúa.
 
Về nội dung sứ điệp rao giảng thì sao? Chúa Giêsu căn dặn các đồ đệ trong bài Phúc âm hôm nay: “Vào nhà nào chúng con hãy nói bình an cho nhà này”. Lời này loan báo trước lời chúc bình an của Chúa Giêsu cho các môn đệ khi Chúa Phục sinh hiện ra cho các ông và sai các ông ra đi mang bình an của Chúa đến cho mọi người. Lúc đó, Chúa hiện ra cho các môn đệ và nói: “Bình an cho các con”.
 
Được huấn luyện, được thực tập trước để rao giảng sự bình an cho anh chị em mình, nên chắc chắn khi ban bình an cho các môn đệ, các môn đệ sẽ hiểu trọn vẹn hơn ý nghĩa về hệ quả của lời chúc bình an này mà Chúa đã phải chết trên thập giá để mang đến cho các ông.
 
Nhận sự bình an của Chúa, các môn đệ được sai đi chia sẻ sự bình an của Chúa cho anh chị em. Nhưng nếu bám víu vào những điều trần tục, chỉ lo cho sự an toàn ích kỷ của mình và những điều trần tục, những sự an toàn ích kỷ này thường là những điều gây chia rẽ, xung đột, bất hòa giữa cá nhân với nhau, đó là nói trên bình diện nhỏ và nếu nói trên bình diện lớn thì sẽ gây chiến tranh giữa các quốc gia.
 
Nếu bám víu vào những điều trần tục, chỉ lo cho sự an toàn ích kỷ của mình thì làm sao có thể chia sẻ sự bình an của Chúa cho anh chị em được. Ai muốn mang theo tất cả mọi sự với mình thì sẽ để lại sau rất ít và rất ít để tìm gặp điều mình mong muốn. Một người không biết hy sinh gì cả thì sẽ không gặp được gì cả.
 
Lời Chúa hôm nay còn muốn nói với chúng ta nhiều điều khác nữa, nhưng ít ra trong giây phút này chúng ta hãy xét mình lại về hai điểm vừa được gợi ra cho chúng ta đó là: Thái độ từ bỏ mọi sự để theo Chúa không ỷ lại vào sự an toàn của con người, nhưng cần nghĩ đến sự quan phòng chăm sóc của Chúa cho đời sống của mình. Và điểm thứ hai là chia sẻ sự bình an của Chúa cho anh chị em. Chúng ta hãy để cho Chúa chiếm trọn tâm hồn chúng ta, để chúng ta có được đầy tràn sự bình an của Chúa, qua đó chúng ta có thể chia sẻ sự bình an ấy cho anh chị em. Chúng ta đến cử hành thánh lễ và trong thánh lễ trước khi chúng ta đón nhận Chúa vào trong tâm hồn, chúng ta được mời gọi nhớ lại lời hứa bình an của Chúa: “Thầy ban cho chúng con bình an, bình an mà thế gian không thể ban cho”.
 
Xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta được sự bình an này và gìn giữ mỗi người chúng ta trong đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh tin kính.
 
 
 

38. Tử tế
 
“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít”. Chúa nhật hôm nay Giáo Hội mời gọi mọi người hãy đưa mắt nhìn đồng lúa chín vàng. Đồng lúa ấy có thể là cả thế giới. Thế giới có khoảng sáu tỉ người, mà những người tin Chúa mới chỉ hơn một tỉ. Riêng tại Á Châu, chiếm 2/3 dân số thế giới nhưng người Công giáo chỉ có không tới 3%. Có thể là đất nước Việt Nam chúng ta gần 80 triệu người, mới có khoảng trên 10 triệu người Công giáo. Vẫn còn biết bao người chưa biết Chúa. Có thể là giáo phận, nhưng cũng có thể là khu xóm, gia đình, nơi chúng ta sinh sống, làm việc… Vậy ai là thợ gặt trong cánh đồng lúa ấy?
 
Trong bài Tin Mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu không chỉ sai 12 tông đồ đi rao giảng, nhưng Ngài sai tất cả 72 môn đệ. Điều này có nghĩa là việc rao giảng không phải chỉ dành riêng cho nhóm 12 là các tông đồ, nhưng cho số đông những người theo Chúa. Đối với chúng ta hôm nay, việc rao giảng Tin Mừng cũng không phải là bổn phận của một số thành phần nào trong Giáo Hội như Giám mục, linh mục hay tu sĩ, nhưng là bổn phận của những người tin theo Chúa, tức là của mọi người và mỗi người đã lãnh Bí tích Rửa tội. Như vậy, thợ gặt là tất cả chúng ta.
 
Thật vậy, ngay từ khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, từ khi được làm con Chúa, khi được gia nhập vào Giáo Hội, người Kitô hữu được trao cho một chiếc áo trắng đánh dấu một cuộc đời mới, đồng thời cũng được trao cho một cây nến sáng được châm lửa, được thắp sáng từ cây nến Phục sinh, tượng trưng cho Đức Kitô Phục sinh. Đức Kitô là ánh sáng. Anh sáng ấy đến thế gian để chiếu rọi bóng tối. Ai tiếp nhận ánh sáng thì cũng trở nên đèn sáng soi cho người khác. Như thế, biểu tượng trao nến sáng nói lên nhiều ý nghĩa: người lãnh Bí tích Rửa tội tiếp nhận ánh sáng trong niềm vui vì đã tìm thấy ánh sáng chân thật. Đàng khác, cũng nói lên trách nhiệm phải trở nên đèn sáng cho những người chung quanh bằng cách sống trong ánh sáng.
 
Như vậy, ngay từ lúc được rửa tội, ngay từ lúc tiếp nhận ánh sáng, thì người Kitô hữu cũng trở nên đèn sáng, cũng lãnh nhận sứ mạng ra đi rao giảng Tin Mừng. Nói cách khác, bản chất của người Kitô hữu là đèn sáng, là người được sai đi, sai đi thực hiện công trình của Chúa đến từng người ở mọi nơi mọi thời, không phân biệt màu da, tiếng nói, tín ngưỡng, địa vị xã hội… Và hơn nữa, ở nơi nào càng khó khăn nguy hiểm, thì người Kitô hữu càng được sai đi; ở nơi nào càng có thế lực sự dữ ngự trị, thì lệnh truyền ấy càng khẩn thiết, như Chúa đã nói: “Thầy sai anh em đi như chiên giữa bầy sói”, bởi vì “Những người mạnh khỏe không cần thầy thuốc, chỉ những ai bệnh tật mới cần”. “Ta không đến kêu gọi người công chính, nhưng kêu mời những người bất lương ăn năn trở lại”.
 
Tuy nhiên, công việc rao giảng không chỉ là của con người nhưng là của chính Chúa, Ngài là chủ và là người quản lý. Chính vì vậy nên khi sai các môn đệ đi rao giảng Ngài không mấy chú trọng đến phương tiện. Phương tiện mà Chúa trao cho các môn đệ là đừng mang theo túi tiền, bao bị gì cả. Phương tiện duy nhất và tiên quyết là đem lại bình an cho mọi người, là sống chia sẻ, sống trọn tình người với họ. Tóm lại là sống tử tế với mọi người. Việc sống tử tế này không chỉ đối với những người có hoàn cảnh và điều kiện tốt, nhưng là một đòi hỏi cho tất cả mọi Kitô hữu, nhất là người Kitô hữu Việt Nam chúng ta đang sống trong hoàn cảnh còn nhiều khó khăn và chưa lấy gì làm sáng sủa của đất nước. Đây cũng là điều chúng ta đặc biệt lưu ý hôm nay.
 
Một trong những cuốn phim gây nhiều chú ý nhất ở ngoại quốc trong thập niên 80 là phim “Truyện Tử tế” của đạo diễn Trần văn Thủy. Cuốn phim này được hãng truyền hình Pháp S.R.K mua và được trình chiếu trong chương trình có tên là “Đại Dương”. Khi một ký giả ngoại quốc hỏi: “Những người Kitô Việt Nam có thể làm gì để giúp dân tộc họ sống tử tế?”. Nhà đạo diễn đã trả lời: “Điều người ta mong đợi ở các người Kitô Việt Nam là niềm tin của họ và họ phải sống điều họ tin”.
 
Lời phát biểu của nhà đạo diễn trên đây đáng để chúng ta suy nghĩ. Sống trong một dân tộc còn nhiều người chưa biết Chúa. Sống trong một đất nước còn nhiều khó khăn. Sống trong một xã hội còn nhiều giả dối, gian manh, lừa đảo, tiêu cực, thì đối với người Kitô, tin và sống niềm tin của mình là phải sống, phải tin thật tử tế, tức là tin và sống tình nhân loại, sống quảng đại, tóm lại là sống tình người với nhau. Tin và sống như thế không phải chỉ là cách sống dành cho các nữ tu, các linh mục mà cũng chính là sứ mạng và ơn gọi của mỗi người Kitô chúng ta.
 
Có người đã nói lên một sự thật đau lòng như sau: “Chữ tử tế” bây giờ chỉ thấy ở miệng những người có tuổi hoặc những người hơi xưa. Thời bây giờ mấy ai còn thì giờ để luận bàn những chuyện xa xôi ấy”. Thật là một lời cảnh báo đáng cho chúng ta suy nghĩ. Người tử tế dường như đã trở thành loại người quí hiếm trong xã hội. Và khi lòng tử tế đã trở thành quí hiếm thì dĩ nhiên là những hành động không tử tế chút nào lại càng gia tăng với cấp số nhân. Đọc báo chí hàng ngày chúng ta thấy đầy dẫy những hành động không chút tử tế ấy.
 
Sống cho tử tế, sống cho ra người là điều cần thiết và quan trọng cho cá nhân cũng như xã hội. Đó là ý nghĩa của câu nói: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Tử tế thực sự không phải là có tiền hoặc muốn là có được ngay. Nó cũng phải được học hành, được dạy dỗ, được tập luyện, kế thừa và gìn giữ. Tử tế như hoa thơm, hoa đẹp, không thể thiếu được của cuộc đời.
 
Một người bạn của đạo diễn Trần văn Thủy, trước khi chết vì bệnh ung thư đã nói: “Tôi chả có gì phải hối tiếc vì chúng ta đã sống tử tế với nhau”. Lời phát biểu gợi cho chúng ta niềm vui ngập tràn của 72 môn đệ Chúa sau khi đã hoàn thành công tác được giao phó. Đó là niềm vui của các tông đồ chân chính, là niềm vui của những ai dám sống tử tế trong một xã hội không lấy gì làm tử tế và đó chẳng phải là niềm vui của những người Kitô chúng ta sao?
 
Xã hội chúng ta đang xuống cấp về mọi mặt, nhất là mặt đạo đức, đó là thực tế không thể chối cãi. Nhưng “Thà đốt lên một ngọn nến hơn là ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối”. Tất cả những điều chia sẻ trên đây mong ước gợi lên cho mọi người một suy nghĩ: trước khi nghĩ đến những công việc truyền giáo to lớn rầm rộ, chúng ta cần chú ý đến những việc nhỏ bé đơn giản, đó là thắp một ngọn nến, tức là thắp một tia hy vọng cho người tuyệt vọng, mang bình an cho người đau khổ, mang tình yêu đến cho người bị bỏ rơi… chúng ta làm được những việc đó không?
 
 
 

39. Sứ giả
 
Một vị vua hoặc ông chủ tịch của nước Việt Nam chúng ta muốn sang thăm một nước nào đó thì phải làm gì đây – vị vua hoặc ông chủ tịch nước sẽ cử sứ giả hoặc đại sứ sang nước đó báo tin cho họ hay.
 
Cũng thế Tin Mừng hôm nay mà chúng ta vừa nghe cho thấy Chúa Giêsu muốn đến các thành, các nơi mà Chúa định đến nên Chúa đã làm hai việc là chọn 72 môn đệ làm sứ giả cho Ngài, và trao cho các ông nhiệm vụ đến đó loan báo Tin Mừng bình an của Chúa.
 
Với việc tìm hiểu đoạn Tin Mừng này chúng ta sẽ nhận ra Chúa muốn nói gì với mỗi người chúng ta trong thế giới hôm nay.
 
Chúa Giêsu quyền năng đã biết trước và nhận thấy rõ số người sẵn sàng đón nhận Chúa rất nhiều. Nhiều đến nỗi mà Chúa đã ví họ như cánh đồng lúa trổ bông chín vàng mà lại có ít thợ gặt. Vì thế cho nên Chúa mới nói: “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt” và Chúa đề nghị các môn đệ hai nhiệm vụ:
 
Nhiệm vụ thứ nhất là cầu nguyện. Thiên Chúa là ông chủ của mùa gặt, Thiên Chúa có quyền quyết định những ai được vào Nước Trời. Vì thế, Chúa kêu gọi các môn đệ cầu nguyện để xin Thiên Chúa khơi lên trong lòng con người tinh thần làm môn đệ Chúa, sẵn sàng làm sứ giả của Chúa.
 
Nhiệm vụ thứ hai là “Hãy ra đi loan báo Tin Mừng bình an”. Cầu nguyện chưa đủ nhưng còn phải lên đường ra đi loan báo Tin Mừng bình an. Trước khi đi Chúa Giêsu căn dặn rất kỹ:
 
Hành trang phải nhẹ tênh: không túi tiền, không bao bị, không giày dép để thực sự trở nên nghèo khó như Chúa Giêsu. Công việc thì cấp bách nên đừng chào hỏi ai dọc đường. Đến nơi đâu thì đầu tiên phải nói lời chào thân thiện “Bình an cho nhà này”. Đây không phải là bình an mà thế gian ban tặng dựa trên của cải vật chất, danh vọng… nhưng là bình an mà bài đọc I tiên tri Isaia đã loan báo Thiên Chúa sẽ ban cho Giêrusalem: “Này Ta đổ hòa bình tuôn xuống thành đô khác nào dòng sông cả, khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ…”. Bài đọc II cho biết: Bình an đó là chính Đức Kitô đã đến trần gian để giải thoát con người khỏi tội lỗi và sự chết bằng cuộc khổ nạn thập giá, dẫn đưa con người vào cuộc sống vĩnh cửu mai sau. Một thái độ phải có là khiêm tốn, siêu thoát, đón nhận những gì người ta cung cấp cho, không tìm kiếm tiện nghi, dễ chịu. Một công việc phải làm là chữa lành bệnh tật những người ốm đau. Một lời rao giảng làm rộn lên niềm vui là “Nước Thiên Chúa đã đến gần anh chị em”. Tuy nhiên, cũng phải đón nhận sự tự do từ chối của người ta nhưng cũng phải loan báo cho người ta biết rằng “Nước Thiên Chúa đã đến gần”.
 
Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe là câu chuyện cách đây hơn 2000 năm, nhưng thử hỏi đến lúc này Tin Mừng đã có bao nhiêu người được đón nhận.
 
Thế giới có trên 6 tỷ người mà những người tin vào Thiên Chúa chỉ mới có 1 tỷ, và cũng có những người có đạo nhưng không sống đạo. Riêng tại Á Châu, trong 100 người thì còn hơn 97 người chưa biết Chúa. Và chúng ta phải suy nghĩ lời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói trong Tông huấn Giáo Hội tại Á Châu là “Một điều thật bí ẩn là tại sao Đấng Cứu Thế sinh ra tại Á Châu, mà cho tới bây giờ phần lớn châu lục này vẫn không biết Người”. Thử nhìn ra trong khu xóm hoặc xung quanh chúng ta, còn bao nhiêu người chưa biết Chúa. Chắc chắn là đông như cánh đồng lúa chín mà Chúa đã nhìn thấy trước rồi phải không.
 
Do đó, lời mời gọi của Chúa Giêsu “Hãy trở nên sứ giả loan báo Tin Mừng bình an” cho mọi dân tộc, đặc biệt là dân tộc Á Châu vẫn luôn vang dội trong tâm hồn mỗi chúng ta, và càng khẩn thiết hơn khi bước vào ngàn năm thứ ba. Cùng với Hội thánh chúng ta “Hãy ra khơi” trở nên những sứ giả loan báo Tin Mừng bình an. Trong giới hạn của đất nước Việt Nam chúng ta, Chúa sẽ mời gọi mỗi người đi loan báo Tin Mừng mỗi cách khác nhau.
 
Thông thường chúng ta nghĩ việc loan báo Tin Mừng chỉ dành cho các Giám mục, Linh mục, Phó tế và tu sĩ nam nữ, mà quên đi rằng ngay từ lúc lãnh nhận Bí tích Rửa tội mỗi người chúng ta đã lãnh nhận sứ mạng ra đi loan báo Tin Mừng bình an rồi.
 
Cầu nguyện mỗi ngày và đóng góp quỹ truyền giáo hằng năm vào lễ “Khánh nhật truyền giáo”.
 
Sống chứng nhân nơi mình đang sinh sống, làm việc trung thực trong mọi hoàn cảnh, chia sẻ những khó khăn, nếu có thể được thì thăm viếng an ủi, đem tình thương và bình an cho những người ốm đau bệnh tật, nghèo khổ và cô đơn…
 
Nếu thực hiện được như thế thì chúng ta đã và đang loan báo Tin Mừng bình an rồi đó và tên của chúng ta đã được Chúa khắc ghi.
 
Chung quanh chúng ta còn nhiều người chưa biết Chúa, chúng ta phải sống làm sao để nên như sứ giả loan báo Tin Mừng bình an cho mọi người. Điều đó, Chúa Giêsu vẫn đang nhắc nhở mỗi người chúng ta nhất là khi tham dự thánh lễ là lúc chúng ta đón nhận bình an từ Thiên Chúa qua Chúa Giêsu ở lời chào đầu lễ của chủ tế, rồi chúng ta lại trao bình an đó cho nhau lúc “chúc bình an” và cuối thánh lễ chủ tế xướng lên “lễ xong chúc anh chị em ra đi bình an” đó là lúc chúng ta nhận sứ mạng mang bình an đó cho mọi người.
 
Ước gì lời Chúa hôm nay qua việc Chúa chọn 72 môn đệ làm sứ giả cho Ngài là động lực nhắc nhở mỗi người chúng ta một lần nữa “Hãy trở nên sứ giả loan báo Tin Mừng bình an”.
 
 
 

40. Tất cả những người cô đơn
 
Tôi xin được trích một phần của bản nhạc “Eleanor Rigby” từ thời 1966 của ban nhạc Beatles:
 
Ôi, hãy nhìn những con người cô đơn: Eleanor Rigby đang lượm những hạt gạo ở trong nhà thờ sau một đám cưới, và sống trong mơ mộng… Những người cô đơn đến từ đâu vậy? Những người cô đơn ở đâu vậy?
 
“Eleanor Rigby” đã làm một phần của phong trào âm nhạc hiện thời mà có thể giúp cho người nghe không thể nào mà không mủi lòng, và nó đã gây ảnh hưởng rất nhiều cho giới trẻ. Bản nhạc đó vẫn còn đánh vào tim đen của con người. Nó vẫn còn đặt ra một câu hỏi, “Thế nào là một con người hoàn thiện?” Nhìn xung quanh, chúng ta thấy rất nhiều người đang phải đương đầu với nhiều vấn đề. Tận thâm tâm của mỗi người đều đang dâng lên một câu hỏi, “Đi đâu để tìm một cuộc sống hạnh phúc?” “Ai có thể chỉ cho chúng ta cuộc sống hạnh phúc?” Không ai giàu có mà mãn nguyện cả. Người nghèo phải chiến đấu để mà sống. Còn những người thuộc vào cấp trung lưu thì có cả đến ngàn cuốn sách đã ghi về cuộc sống buồn chán của họ. Nếu thật sự cả ba giới trong xã hội đều là như vậy thì con người có thể nào tìm được hạnh phúc không?
 
Bài Phúc Âm hôm nay cho chúng ta một đầu mối quan trọng cho câu hỏi ở trên. Thánh Luca nói với chúng ta rằng Chúa Giêsu đã chọn 72 tông đồ và sai họ đi vào các thành để chuẩn bị cho dân chúng ở đó đón tiếp Ngài. Nhiệm vụ của họ chính là nói cho dân chúng biết Chúa Giêsu đang đến với một sứ mạng cao cả. Chúa Giêsu được sai đến từ Thiên Chúa. “Hãy chữa những người bệnh tật”, và nói cho người ta biết rằng “Nước Thiên Chúa đã đến gần,” Chúa Giêsu đã truyền dạy cho các tông đồ (Lc 10:9). Đồng thời Chúa Giêsu cũng căn dặn các tông đồ những điều các ông nên làm và không nên làm. Các tông đồ ra đi và thâu lượm được nhiều kết quả, và các ông thuật lại cho Chúa Giêsu, “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỉ cũng phải khuất phục chúng con” (Lc 10:17). Chúa Giêsu trả lời họ, “Anh em chớ mừng vì quỉ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10:20). Phần đầu tiên của câu Phúc Âm vừa rồi không có gì khó hiểu cả. Chúa Giêsu khuyên dạy các tông đồ của Ngài rằng đừng sống dựa vào những cái vinh dự mau qua. Cái vinh dự trừ quỉ hoặc làm được những phép lạ này nọ, đó chính là điều mà con người chúng ta thường hay bám vào. Chúng ta thường bám vào những cái gì là vinh quang chóng qua ở đời này.
 
Phần thứ hai không phải là một điều dễ hiểu khi Chúa Giêsu nói tên các con được ghi ở trên trời.
 
“Các Mối Phúc Thật”, như các bạn đã biết đó là những lời mở đầu của Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giêsu, là một danh sách ngắn những điều thỏa nguyện. Đáng tiếc thay, rất nhiều người đi tìm hạnh phúc mà không phải đi theo lối của các mối phúc thật. Vấn đề là ở chỗ họ đã quá tập trung vào những cái không được làm cái này cái nọ mà đã đưa đến việc kết luận là những điều Chúa Giêsu thì chỉ là mơ hồ và không thể nào đạt nổi. Họ có thể quên hoặc không biết rằng sứ điệp của Chúa Giêsu không phải là, “Nếu con yêu thương kẻ thù, cầu nguyện cho kẻ bắt bớ, và đưa má bên kia, thì con sẽ được hạnh phúc.” Ngược lại, những người được chúc phúc và hạnh phúc sẽ yêu thương kẻ thù, cầu nguyện cho kẻ bắt bớ họ, và đưa má bên kia. Nói một cách khác, không phải, “Nếu anh đã có vợ, và nếu anh không đi ngoại tình thì anh là người được hạnh phúc.” Nhưng là, “Nếu anh đã có vợ và sống dựa trên Lời Chúa, anh là người hạnh phúc, và anh sẽ không đi theo người đàn bà khác.”
 
Mối phúc thứ nhất trong 8 Mối Phúc Thật là phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó. Điều đó có nghĩa là những ai có tinh thần nghèo khó mà biết rằng mình thiếu thốn. Khi họ nhận biết được điều đó, họ phải biết cậy trông vào Chúa để nhận ra ý nghĩa của cuộc sống. Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó bởi vì họ sẽ tin tưởng vào Thiên Chúa là Đấng duy nhất có thể làm cho lòng họ được thỏa nguyện.
 
 
 

41. Tinh thần nghèo khó
 
Có một nhà hiền triết đến nghỉ hè tại một thành phố nọ; ông vua của đô thị này thường tự hào mình là người giàu có nhất trần gian. Vốn là người siêu thoát mọi của cải trần thế, nhà hiền triết quyết định đến gặp cho được con người khoe khoang này. Khi nhà hiền triết vừa đến cung điện, nhà vua liền đưa ông đi một vòng và cho ông thấy tất cả sự giàu sang của mình. Nhà vua hỏi một cách huênh hoang:Nhà ngươi nghĩ gì về tất cả sự giàu có của ta? Nhà hiền triết cúi đầu giữ im lặng. Nhà vua lại hỏi tiếp: Theo nhà ngươi, thì ai là người hạnh phúc nhất trần gian này? Nhà hiền triết suy nghĩ một lúc rồi kể tên của những người Hy lạp mà có lẽ không ai biết đến, kể cả nhà vua. Nhận ra thái độ khiêu khích của nhà hiền triết, nhà vua liền nổi giận; ông yêu cầu nhà hiền triết phải giải thích ngay về thái độ ấy. Lúc bấy giờ, nhà hiền triết mới thong thả nói: Thưa ngài, không ai có thể được xem là hạnh phúc, khi trái tim người đó còn gắn bó với của cải vật chất. Ðiều này cũng giống như một cuộc hôn phối, của cải vật chất qua đi, người có của sẽ thành một người góa, mà người góa thì đương nhiên sẽ khóc lóc; hoặc giả như người có của cải qua đi, người đó cũng chẳng mang theo được một đồng xu nào, lúc đó cũng chỉ có khóc lóc mà thôi.
 
Tin Mừng hôm nay nhắc nhớ chúng ta về tinh thần nghèo khó đích thực. Cuộc sống nghèo khó của Chúa Giêsu là một chọn lựa: Ngài đã chọn sinh ra trong nghèo khó; Ngài đã lớn lên trong khó nghèo; và trong ba năm sống công khai, Ngài đã chọn lựa nếp sống nghèo khó. Khi sai các môn đệ đi rao giảng Nước Trời, Ngài cũng đã khuyến dụ các ông hãy sống khó nghèo. Ra đi hai tay không, người ta tiếp đón thì ở lại, người ta không niềm nở thì ra đi, giũ bỏ lại mọi thứ bụi trần, đó là hình ảnh của sự siêu thoát mà Chúa Giêsu luôn đòi hỏi ở những môn đệ của Ngài. Ðây không chỉ là điều kiện của những người môn đệ, những nhà truyền giáo hay các tu sĩ: nghèo khó là đồng phục của mọi người mang danh hiệu Kitô. Nghèo khó là bộ mặt đích thực của các nghĩa tử của Thiên Chúa, họ phải giũ bỏ tất cả để mặc lấy phẩm giá của những con người được tái sinh.
 
Trong thực tế, người Kitô hữu phải sống thế nào mới gọi là nghèo khó? Ðó là thắc mắc mà trong xã hội nào, ở thời đại nào, các Kitô hữu cũng có thể nêu lên. Phải chăng sống nghèo khó, họ phải từ bỏ mọi thứ của cải trần thế? Phải chăng về lý tưởng nghèo khó, Kitô giáo chủ trương bần cùng hóa xã hội? Thực tế, nghèo không hề mâu thuẫn với sự phát triển hay làm giầu tài nguyên vốn có trong thiên nhiên mà Kitô giáo luôn cổ võ và nâng đỡ. Kitô giáo vốn là sức mạnh tiên phong trong việc khai hóa và mở mang vào thời Trung Cổ tại Âu Châu; những khám phá khoa học và tiến bộ kỹ thuật ở khởi đầu đều phát xuất từ Kitô giáo, như vậy, phát triển hay làm giầu không hề mâu thuẫn với Tin Mừng.
 
Thế nhưng, làm thế nào để sống tinh thần nghèo khó theo Tin Mừng? Kinh nghiệm cuộc sống cho chúng ta thấy rằng tự nó, của cải vật chất không đương nhiên đem lại hạnh phúc cho con người, trái lại nó luôn có nguy cơ tha hóa và nô lệ hóa con người. Của cải vật chất vốn dễ làm cho con người trở nên mù quáng đối với bản thân cũng như trong quan hệ với tha nhân; và khi đã trở thành mù quáng, con người tôn của cải vật chất lên làm cứu cánh và tự giam mình trong vỏ ích kỷ. Như vậy, có tinh thần nghèo khó đích thực có nghĩa là luôn biết giữ khoảng cách đối với của cải vật chất, biết sử dụng nó như phương thế để tìm kiếm và xây dựng những giá trị Nước Trời, như công bằng, bác ái, liên đới. Một cách cụ thể, có tinh thần nghèo khó đích thực là biết mưu cầu cho công ích, biết san sẻ với người túng thiếu, biết làm ra của cải, nhưng không thuộc về của cải.
 
Hơn bao giờ hết, người Kitô hữu chúng ta phải không ngừng suy nghĩ về ý nghĩa của tinh thần nghèo khó. Túng thiếu, nghèo đói, mà vẫn tin tưởng cậy trông và giữ bàn tay thanh sạch, chứ không bán đứng lương tâm để làm điều gian ác; may mắn hơn người khác vì được thịnh vượng, giầu có, mà vẫn biết mở rộng trái tim và bàn tay để chia sẻ cho người nghèo khó, đó là thể hiện của tinh thần nghèo khó đích thực. Trong một xã hội của chụp giựt và xâu xé lẫn nhau, một cuộc sống như thế chắc chắn là một chứng tá cao độ cho Nước Trời.
 
 
 

42. Sứ mệnh hòa bình – An Hạ

 
Điều quan trọng nhất trên đời này là cái gì? Chẳng ai có thể đưa ra câu trả lời vừa lòng mọi người. Tùy cái nhìn, mỗi người sẽ có câu trả lời khác nhau. Câu trả lời sẽ xác định tất cả ý nghĩa và giá trị cuộc đời.
 
ĐIỀU QUAN TRỌNG
 
Thánh Phaolô đã đưa ra câu trả lời chính xác nhất: “Điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới” (Gl 6:15) trong Đức Giêsu Kitô. Nghĩa là, nhờ cái chết và phục sinh, Đức Kitô đã trở thành Ađam mới để biến cải toàn thể tạo vật tự bên trong. Vạn vật sẽ sống trong trời mới đất mới, tràn ngập “sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.” (Rm 14:17)
 
Đó là lý tưởng phải đạt tới ngay trên mặt đất này. Quả thực, chính để xây dựng Nước Thiên Chúa trên trần gian, Đức Giêsu mới sai các môn đệ “như chiên con đi vào giữa bầy sói” (Lc 10:3) với một sứ mệnh duy nhất là loan báo cho muôn dân biết “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.” (Lc 10:9.11) Dù phải thực hiện sứ mệnh cao cả và vô cùng khẩn thiết đó giữa bầy sói, người môn đệ không bao giờ được phép chối bỏ bản chất “chiên con” của mình. Đánh mất bản chất hiền lành, họ không thể thực hiện sứ mệnh hòa bình giữa muôn dân. Làm sao có thể sống và thể hiện sứ mệnh đó giữa một thế hệ sa đọa gian tà này? Đức Giêsu đã hứa: “Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em.” (Lc 10:19) Nếu tin, người môn đệ sẽ thấy tất cả sức mạnh Tin mừng.
 
Để thi hành sứ mệnh hòa bình, trước tiên người môn đệ phải sống và thể hiện sứ mệnh đó ngay trong cuộc sống. Đó là lý do tại sao Đức Giêsu “sai các ông cứ từng hai người một.” (Lc 10:1) Theo đường hướng đó, các môn đệ dễ hỗ trợ nhau và làm cho chứng từ của họ có tính cách xác thực (Đnl 19:15) Ngay từ đầu Giáo hội đã có một cặp truyền giáo nổi tiếng là thánh Phaolô và Banaba (x. Cv 13). Các ngài đã thành công vì suốt đời không ngừng đeo đuổi sứ mệnh hòa giải và hòa bình giữa muôn dân.
 
Còn biểu tượng nào diễn tả cảnh hòa bình cho bằng cảnh chiên con nằm chung với chó sói (x. Is 11:6; 65:25). Đó là hình ảnh tuyệt vời đến siêu thực. Đó cũng là sứ mệnh hòa giải khó khăn nhất người môn đệ phải thực hiện trên bước đường truyền giáo. Dĩ nhiên đứng trước sói dữ, chiên con hoàn toàn bất lực. Cũng thế, vì thiếu phương tiện tự vệ, các nhà truyền giáo cũng không thể đối đầu với kẻ thù. Đức Giêsu đã biết trước tất cả những nguy hiểm đó. Chính Người cũng đã phải đối mặt với khổ đau và cái chết. Người môn đệ cũng phải chia sẻ cùng một thân phận. Nhưng khổ đau và cái chết không phải là dấu chỉ của sự bất lực hay thất bại. Trái lại, đó là một niềm vinh dự lớn lao như thánh Phaolô nói: “Tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô.” (Gl 6:14)
 
Người mạnh mẽ bảo đảm với các môn đệ: “Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên mọi thế lực Kẻ Thù.” (Lc 10:19) Các môn đệ chia sẻ cùng một quyền bính với Thầy. Quyền năng ấy phát sinh từ ánh sáng Phục sinh. Thực thế, “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.” (Mt 28:18) Các quyền lực ác thần đã bị tấn công và thảm bại nơi sứ vụ của Đức Giêsu và Giáo hội. Trong Công vụ Tông đồ, thánh Luca thường kể lại cách thức Chúa Giêsu đã cứu các nhà truyền giáo thoát khỏi những lực lượng tiêu hủy (ví dụ 28:1-6) Những lực lượng đó là tất cả các loại ác thần, biểu tượng qua các hình ảnh rắn rết và bọ cạp (x. The New Jerome Biblical Commentary 1990:701).
 
Chiến thắng các lực lượng đó không phải là nguyên nhân làm cho các môn đệ hăm hở trên bước đường chinh phục thế giới cho Đức Kitô. Nguyên nhân chính là ân huệ lớn lao Chúa dành cho trên trời. Nơi đó họ hoàn toàn trở thành thụ tạo mới với tất cả niềm vui lớn lao phát sinh từ lòng Chúa xót thương. Từ đó họ mới thấy tất cả ý nghĩa và giá trị của một cuộc sống bình an và ân sủng trên quê trời. Họ trở thành công dân Nước Trời.
 
PHÚC ÂM HÓA
 
Nhưng để đạt mục tiêu đó, ngay từ bay giờ người môn đệ Đức Kitô phải nhận định rõ thực tại cuộc sống và nỗ lực phúc âm hóa môi trường theo đúng sứ mệnh Chúa đã trao. Xã hội Hoa kỳ đang đối mặt với thách đố phải phúc âm hóa “một xã hội ngày càng lâm nguy vì quên mất nguồn gốc linh thiêng của mình.” (Gioan Phaolô II: Zenit 28.05.04) Trong mọi cơ cấu và sinh hoạt đều đang bị trần tục hóa.
 
Trước tình trạng đó, người môn đệ Đức Kitô phải làm gì? Trước hết, họ phải biết đây là “giờ hành động của giáo dân.” (Gioan Phaolô II: Zenit 28.05.04) Giáo dân không còn phải là thành phần thụ động, nhưng phải tích cực hoạt động cho việc phúc âm hóa môi trường. Họ hiện diện khắp nơi. Sự hiện diện đó phải có một ý nghĩa và chiều kích mới. Chiều kích đó bắt đầu từ việc “chấp nhận thách đố. Điều đó đòi phải có một sự hiểu biết sâu rộng và thực tiễn về những dấu chỉ thời đại để triển khai việc trình bày đức tin Công giáo sao cho thuyết phục được người nghe.” (Gioan Phaolô II: Zenit 28.05.04) Dĩ nhiên không tùy thuộc vào khoa hùng biện cho bằng một đời sống gắn liền với đức tin. Trái lại Giáo Hội Hoa Kỳ “được kêu gọi đáp ứng những nhu cầu và khát vọng tôn giáo của một xã hội ngày càng có nguy cơ lãng quên những nguồn gốc linh thiêng của mình và khuất phục trước một thế giới quan hoàn toàn duy vật và vô hồn.” (Gioan Phaolô II: Zenit 28.05.04)
 
Muốn hoàn thành sứ mệnh cao cả giữa một xã hội như thế, người Kitô hữu phải bắt đầu từ đâu? Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh đến nhu cầu “chuẩn bị cho giới trẻ đặc biệt biết đối thoại với những người đồng thời về sứ điệp Kitô và sự thích hợp của sứ điệp ấy trong việc xây dựng một thế giới công bình, nhân bản và hòabình hơn. Trên hết, bây giờ là thời điểm giáo dân được kêu gọi thi hành sứ mệnh ngôn sứ của Giáo hội mà phúc âm hóa các lãnh vực khác nhau trong đời sống gia đình, xã hội, nghề nghiệp và văn hóa, vì họ được kêu gọi uốn nắn thế gian theo Tin mừng.” (Gioan Phaolô II: Zenit 28.05.04)
 
Công cuộc lớn lao đó không thể thực hiện nếu chỉ nhắm vào cá nhân. Trái lại, “với hệ thống các cơ quan giáo dục và bác ái vĩ đại, Giáo hội Hoa Kỳ đứng trước thách đố phải phúc âm hóa văn hóa để có thể lấy ra?những thứ mới cũ? từ kho tàng khôn ngoan của Tin mừng.” (Gioan Phaolô II: Zenit 28.05.04)
 
Sống trong xã hội Hoa kỳ, người Công giáo Việt Nam không thể không quan tâm đến những vấn đề lớn lao đó. Từ niềm tin đặc thù của mình, liệu chúng ta có thể góp phần cho Giáo hội tại đây vượt qua những thách đố của thời đại hôm nay hay không? Chắc chắn tự bản chất linh thiêng của nền văn hóa Việt Nam, nếp sống đạo của chúng ta sẽ làm sống lại những gì đã mất trong xã hội Hoa kỳ hôm nay.
 
 
 

43. Những người được sai đi
 
(Suy niệm của Lm. G. Nguyễn Cao Luật)
 
Một cộng đoàn có nhiều thành phần
 
Đoạn Tin Mừng của thánh Luca cho độc giả cái nhìn tổng quát về cách thức Đức Giêsu quan niệm và tổ chức hoạt động của Người.
 
Đức Giêsu đã chọn mười hai Tông Đồ: đó là một kế hoạch. Đối với người Do-thái, việc quy tụ mười hai chi tộc Ít-ra-en là sự kiện đánh dấu triều đại Thiên Chúa đã khởi đầu. Nhóm Mười Hai chính là hình ảnh tượng trưng cho việc quy tụ này.
 
Ngoài Nhóm Mười Hai, còn có những người thường xuyên đi theo Đức Giêsu trong các cuộc hành trình. Họ đã từ bỏ gia đình và mọi sự để đi theo Người. Họ là những người phục vụ dân Ít-ra-en mới đang được sinh ra.
 
Lại có những người ở một chỗ. Họ cũng là những người gắn bó với Đức Giêsu, nhưng Người không đòi hỏi họ phải giữ những điều kiện như những người thuộc các nhóm trên. Những người này tạo nên một nền tảng bền vững, những người đón tiếp và trợ giúp các Tông Đồ về phương diện vật chất. Họ là những nhóm nhỏ cư ngụ tại các làng mạc hay tại các thành phố. Họ là những người nhiệt thành và sẵn sàng đáp ứng khi cần.
 
Vậy, trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu biết rằng giờ quyết định đã điểm, nên Người đẩy tiến độ công việc đi nhanh hơn: mùa gặt đã đến! Ông chủ đưa ra hiệu lệnh thu gom. Công việc lúc này của Đức Giêsu không phải là nhằm thuyết phục những người từ chối lời mời gọi của Tin Mừng. Trong nhãn quan của Đức Giêsu, Ít-ra-en mới sẽ nên hấp dẫn trước hết nhờ chứng tá. Đàng khác, Ít-ra-en mới không chỉ thu họp những con chiên lạc mà sau này sẽ nhận ra vị chủ chăn đích thực, nhưng Ít-ra-en mới này còn xuất hiện như một ngọn đuốc giữa thế giới, làm cho dân ngoại phải ngỡ ngàng thán phục.
 
Như thế, các môn đệ của Đức Giêsu có nhiệm vụ đi loan báo và bày tỏ sự sinh ra của thế giới mới. Vương quốc của Xa-tan bị sụp đổ và vương quốc của Thiên Chúa được sinh ra. Vương quốc này đem lại bình an, như lời Đức Giêsu nhắn nhủ các môn đệ trước khi sai các ông đi.
 
Cộng đoàn được sai đi
 
Trong cuộc đời công khai của Đức Giêsu, Nhóm Mười Hai là những người gắn bó chặt chẽ với Người. Các ông là những người được Đức Giêsu huấn luyện cách đặc biệt, và cũng là những người thường xuyên trao đổi với Đức Giêsu. Theo Tin Mừng Mát-thêu, các ông là những người được Đức Giêsu kêu gọi, được Người ban cho quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền (x. Mt 10,1).
 
Mười hai Tông Đồ vì có mười hai chi tộc Ít-ra-en. Con số này là biểu tượng thích hợp cho thấy rằng cách hành động của Đức Giêsu vẫn nằm trong đường hướng vốn có của Thánh Kinh: một nhóm nhỏ những người tin, được Thần Khí tuyển chọn và soi sáng. Cộng đoàn ấy là những người đem Tin Mừng cho toàn thế giới. Cộng đoàn ấy sẽ bất trung nếu chỉ dành riêng cho mình, nếu chỉ nghĩ đến mình. Ngược lại, cộng đoàn ấy sẽ trung tín một khi phát triển thêm mãi, đến vô tận. “Cho đến tận cùng cõi đất.”
 
Vậy, nhiều lần trong Tin Mừng, người ta thấy cộng đoàn Tông Đồ đã phát triển vượt trên số mười hai. Ở đây là “bảy mươi hai người khác.” Những con người này phải có những phẩm chất nào? Chắc chắn các ông là những người “đã thấy và đã nghe”, đã cảm thấy bị thôi thúc từ bên trong do sứ điệp của Đức Giêsu gợi lên. Chính sự thúc đẩy này là một lệnh truyền sai đi, một thư ủy nhiệm “Hãy đi nói…”
 
Như vậy, sự hiểu biết về Đức Giêsu càng tăng thêm thì cộng đoàn các môn đệ càng mở rộng thêm, thì mười hai trở thành bảy mươi hai… và mười hai lần bảy mươi hai. Trong cộng đoàn này, mọi thành viên đều có trách nhiệm làm cho cộng đoàn thêm mở rộng nhờ sự hiểu biết sâu xa hơn về Đức Giêsu. Như mười hai chi tộc của Ít-ra-en, cộng đoàn ấy trở thành như một hạt giống được gieo vào lòng đất. Hạt giống ấy tiềm ẩn một sức mạnh và sẽ mọc lên, vươn thành một cây rất lớn.
 
Từ cộng đoàn này, các ông được sai đi, hai người một. Điều này cho thấy Tin Mừng chỉ xuất hiện thực sự nhờ lời chứng của nhiều người. Đó là lời loan báo của một Hội Thánh thu nhỏ. Và nhóm hai người đó không giữ nguyên tình trạng này. Sẽ có thêm người thứ ba, tức là những người sẽ nghe và sẽ tin. Sau đó, đến lượt họ lại trở thành bạn hữu, trở thành môn đệ.
 
Các môn đệ được sai đi để làm gì? Không phải để thâu nạp thêm hội viên nhằm củng cố sức mạnh của cộng đoàn nhờ số đông. Các ông được sai đi để loan báo: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần.” Các môn đệ do Đức Giêsu sai đi có sứ mạng rõ rệt là loan báo rằng con người hoàn toàn không thể hiểu được nếu không có Thiên Chúa, con người không chỉ sống nhờ cơm bánh, và điều tốt đẹp nhất họ vẫn khao khát nay đã có trong Tin Mừng Đức Giêsu. Họ không còn phải chờ đợi một người nào nữa.
 
Trong Đức Giêsu, nhân loại đã có những lời đem lại sự sống vượt trên sự chết.
 
Cùng với lời cầu nguyện
 
Yếu tố vững bền nhất của Kitô giáo là lệnh truyền không bao giờ được ngừng lại, phải luôn tiến về phía trước. Hội Thánh vẫn còn là một phần nhân loại trong đó Đức Kitô bắt đầu tìm kiếm khuôn mặt đích thực của Người: vẫn còn những người khác đang ở bên ngoài, Hội Thánh có sứ mạng đưa họ về gia nhập.
 
Mục đích của sứ vụ tông đồ không chỉ là tìm kiếm thành công, nhưng là chuẩn bị giúp con người gặp gỡ với Đức Kitô. Chúng ta là những người truyền giáo, chúng ta có nhiệm vụ dọn đường. Nếu chúng ta có chịu vất vả, đó chính là vì Đức Kitô, chính Người thôi thúc chúng ta tiếp đón người khác, và cũng chính Người là Đấng mà chúng ta phải bày tỏ. Thiên Chúa cần đến chúng ta, nhưng chính Người điều hành.
 
Như thế, chúng ta hiểu được mối liên hệ thâm sâu giữa lời cầu nguyện và hoạt động tông đồ. Cầu nguyện, đó là xin Thiên Chúa thi thố quyền lực vô cùng lớn lao cho chúng ta là những tín hữu (x. Ep 1,19), đó là đưa mũi khoan vào tầng sâu của nhân loại để làm vọt lên nguồn nước là chính Đức Kitô.
 
***
 
Thật là điên rồ
 
khi hy vọng con người lắng nghe nhau;
 
thật là uổng công vô ích
 
khi phàn nàn than van;
 
thật là đáng xấu hổ
 
khi kêu la gào thét.
 
Lạy Thiên Chúa,
 
xin cho con
 
khám phá thấy sự êm dịu của việc cầu nguyện.
 
(theo Pierre-Henri Simon)
 
 
 

44. Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm
 
HÃNH DIỆN VÌ THẬP GIÁ ĐỨC GIÊSU KITÔ
 
Sứ mạng của Kitô hữu hôm nay là rao giảng Đức Yêsu bị đóng đinh thập giá đã phục sinh, Ngài là Thiên Chúa nhập thể. Khi nhận biết Đức Yêsu là Thiên Chúa nhập thể, người ta sẽ biết được Thiên Chúa yêu thương con người đến độ nào! Thập giá trở thành biểu tượng của Đấng chịu đóng đinh, và rao giảng về thập giá là rao giảng về tình yêu nhập thể.
 
Khám phá kho tàng qua thập giá Đức Yêsu
 
Một đời vất vả lam lũ rao giảng Tin Mừng, công trạng của Phaolô rất to lớn, nhưng Phaolô nói: “ước gì tôi không hãnh diện về điều gì khác ngoài thập giá Đức Yêsu, Chúa tôi”. Với người đánh giá mọi sự theo giá trị phàm trần, thập giá chỉ là một cây gỗ, có gì mà hãnh diện? Cái chết ô nhục trần trụi trên thập giá, có gì đáng tự hào? Phaolô hãnh diện vì thập giá, không phải vì đó là một cây gỗ, nhưng Ngài hãnh diện vì Con Người đã chết trên thập giá, Đức Yêsu- Đấng yêu thương con người đến chấp nhận cái “chết treo thập giá trần trụi ô nhục”.
 
“Đức Yêsu chết treo thập giá”, dạy Phaolô và con người của mọi thời đại rất nhiều bài học. Ai sống trên đời mà không ham sống lâu, không ham giầu sang, không ham được trọng vọng? Có nhiều người khi bị nghèo, không được trọng vọng, không quyền cao chức trọng, thì than thân trách phận, làm như thể cuộc đời họ không còn ý nghĩa gì nữa. Cái hiểu biết sai lầm này, làm chính đương sự không hạnh phúc, và cũng làm những người thân cũng như những người sống với họ, bị ảnh hưởng. Có biết bao gia đình tan hoang vì một trong hai vợ chồng đã có quan niệm sai lạc như vậy.
 
Hãnh diện vì thập giá Đức Yêsu, là hãnh diện vì mình chỉ là người trần nhưng được Thiên Chúa yêu thương vô cùng, vì Thiên Chúa nhập thể đã yêu con người đến chết trên thập giá. Con người đối với Thiên Chúa thật đáng quý biết bao. Nếu chính Thiên Chúa còn quý trọng con người đến độ chết cho con người, nghĩa là con người có giá trị thực sự trước Thiên Chúa, thì con người cũng phải biết yêu thương kính trọng nhau. Thập giá Đức Yêsu, là bằng chứng cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng. Hãnh diện vì thập giá, là hãnh diện vì mình được yêu, là hãnh diện vì mình nhận thức được chân lý, biết được giá trị đích thực của cuộc đời.
 
Rao giảng Nước Thiên Chúa trong mọi tình huống
 
Đức Yêsu đã sai gởi không chỉ nhóm 12, nhưng Ngài còn sai 72 môn đệ đi rao giảng về Nước Thiên Chúa nữa. Sứ điệp rao giảng là “Nước Thiên Chúa đến gần”. Qua cái chết và sống lại của Đức Yêsu, “nước Thiên Chúa” đã đến và đang đến.
 
Đâu là cách hành xử của người ra đi rao giảng Tin Mừng? Không mang theo túi tiền, không bị, không giày dép; không chào hỏi ai dọc đường! Người rao giảng Tin Mừng, chẳng có gì đáng giá ngoại trừ chính sứ điệp rao giảng. Người rao giảng Tin Mừng, chỉ lo lắng sao cho Tin Mừng được loan báo, và không bận tâm về những điều không cần thiết như lương thực, quần áo, giầy dép. Những việc chào hỏi dọc đường có thể làm người có sứ mạng quên mất công việc chính yếu của họ. Việc rao giảng Tin Mừng, quan trọng và khẩn thiết hơn tất cả những việc xã giao, chào hỏi. Những gì ngăn trở cho việc rao giảng, phải được bỏ đi.
 
Với những người được rao giảng, phải như thế nào? Với những người tiếp đón các ngài, các ngài chúc bình an và loan báo cho họ biết “Nước Thiên Chúa đến gần”; với những người không tiếp đón các ngài, các ngài giũ cả bụi chân lại nhưng vẫn loan báo “Nước Thiên Chúa đã đến gần”. Môn đệ của Đức Yêsu rao giảng tin mừng Nước Trời trong mọi trường hợp, lúc thuận lợi cũng như những lúc bất thuận lợi, lúc được đón nhận cũng như lúc bị từ chối.
 
“Nếu ở đó có ai đáng hưởng bình an…”. Bình an hệ tại thái độ nội tâm của con người, tuỳ thuộc thái độ của người đó có sẵn sàng đón nhận Tin Mừng của Thiên Chúa hay không. Phaolô và các tông đồ, khi đi rao giảng các Ngài bị bắt bớ tra tấn, nhưng các Ngài vẫn có sự bình an đích thực. Sự bình an mà Đức Yêsu hứa ban cho các môn đệ của Ngài, và thế gian không thể cướp đi được. Những yếu tố bên ngoài, ảnh hưởng đến con người, nhưng không thể làm một người “theo Chúa” mất bình an.
 
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
 
  1. Khi nói về thập giá, điều gì gợi lên trong đầu bạn? Nói thật với lòng mình, bạn thấy “thập giá” có ích lợi gì không?
  2.  
  3. Bình an là gì? Theo bạn, đâu là điều kiện để có bình an thực sự?
  4.  
  5. Một Kitô hữu có được trao sứ mạng rao giảng Tin Mừng không? Cung cách hành xử cho những người được sai đi loan báo tin mừng “Nước Thiên Chúa”, có áp dụng đối với các Kitô hữu không? Tại sao?
  6.  
 
 

45. Suy niệm của Lm Bùi Quang Tuấn
 
“Các ngươi hãy đi! Này Ta sai phái các ngươi như chiên vào giữa sói. Đừng mang ví tiền, bao bị, giày dép; cũng đừng chào hỏi dọc đường. Hễ vào nhà nào, trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này”. (Lc 10,3)
 
Đọc qua đoạn Kinh thánh trên đây không ít người cảm thấy dường như Lời Chúa chẳng dính dấp gì đến cuộc sống của mình. Những lời nhắn nhủ “đừng mang gì đi đường, không mang bánh mang bị, không mang tiền mang dép” có lẽ chỉ dành riêng cho các môn đệ Đức Kitô trước khi họ ra đi rao giảng Tin Mừng. Thế nên có thích hợp hay chăng chỉ là thích hợp cho các nhà thừa sai truyền giáo, chứ như dân thường thì e lệnh truyền trên đây không có một chút ý nghĩa nào!
 
Cũng có người thắc mắc: “Tại sao khi sai các môn đệ đi rao giảng, Chúa Giêsu không nghĩ rằng nếu không được đón tiếp thì họ sẽ lấy của gì để ăn, lấy nhà đâu để ở? Thế nên cần phải có chút ít tiền để phòng thân chứ. Rồi nếu như phải ngủ bờ ngủ bụi, mà có chiếc áo che thân thì tốt biết mấy. Tại sao Đức Giêsu lại bảo đừng mang tiền, mang bị, hay mang bánh, mang áo? Tại sao Chúa không phòng xa để giải quyết những trường hợp bất ngờ?”
 
Nhưng đâu phải Chúa Giêsu không biết nghĩ xa. Ngài dư biết sẽ có thành đón tiếp và cũng có thành chối từ. Chính Ngài đã từng căn dặn thành nào không đón tiếp thì hãy rũ bụi chân lại để tố các chúng đã hẹp lòng và bất cập với Tin Mừng đấy chứ.
 
Chúa Giêsu biết sẽ có những người đóng cửa lòng, không đón nhận các môn đệ của Ngài. Nhưng ý tưởng chính toát lên từ lời căn dặn của Chúa Giêsu chính là sứ mạng rao giảng Tin Mừng Nước Trời – sứ mạng đưa bình an đến cho các xóm làng – là một điều cấp bách. Đây là việc chung mà cộng đoàn các tông đồ phải khẩn trương thi hành chứ không được chậm trễ vì lỉnh kỉnh các vật dụng cá nhân.
 
Nói cách khác, ý của Chúa Giêsu là các môn đệ phải biết đặt sự nghiệp chung, lợi ích của Nước Trời trên bao bị, giầy dép, tiền bạc, áo xống. Việc rao giảng Tin mừng phải là công tác quan trọng, cần thiết và cấp bách hơn tất cả mọi lợi ích riêng tư.
 
Sống trong một tập thể hay cộng đoàn, nếu người ta chỉ biết đòi hỏi được đáp ứng các nhu cầu hay lợi ích cá nhân, tập thể hay cộng đoàn đó sẽ bị tổn thương nếu không muốn nói là có nguy cơ sụp đổ. Người hay đòi hỏi chắc chắn sẽ chẳng bao giờ tìm được niềm vui và hạnh phúc chân thật.
 
Kẻ gặp được niềm vui và hạnh phúc trong một cộng đoàn không phải là người được cộng đoàn dành cho nhiều ưu đãi, lợi lộc, hay địa vị, song là người biết sống dấn thân với cộng đoàn và cho cộng đoàn.
 
Người biết nghĩ đến ích chung, tha thiết với việc công sẽ là người đáng được tôn trọng và dễ dàng hoà hợp với tha nhân. Trái lại kẻ chỉ tìm ích riêng sẽ gây nên tình cảnh “khó sống” cho mọi người chung quanh. Họ không thể là môn đệ đích thật của Đức Kitô. Bởi vì người môn đệ đích thật sẽ không cứ lo tìm kiếm, bao bọc, chở che cho sự sống riêng mình, nhưng là dám đánh mất sự sống mình vì Nước Trời và vì tha nhân.
 
Người ta kể trong thời Chiến Quốc, khi quân nước Tề sang đánh nước Lỗ, lúc đến chỗ biên giới, bỗng thấy một người đàn bà, tay bồng một đứa bé, tay kia đang dắt đứa khác lớn hơn. Thấy quân giặc kéo tới, bà ta vội vàng bỏ đứa đang bồng trên tay xuống và bồng đứa bé kia lên, rồi chạy trốn vào núi.
 
Viên tướng nước Tề thấy lạ bèn cho lính đuổi theo bắt lại và hỏi: “Tại sao bà lại ẳm thằng lớn mà bỏ thằng nhỏ?” Người đàn bà thưa: “Đức nhỏ là con tôi, còn đứa lớn là con anh tôi. Vì quân lính kéo tới nhanh quá, lượng sức không thể bảo toàn được cả hai đứa, cho nên tôi đành phải bỏ con tôi lại.”
 
Tướng nước Tề ngạc nhiên: “Con với mẹ là tình máu mủ ruột thịt rất gần. Nay bỏ con mình thì như cắt ruột mà cứu lấy con anh thì nghĩa là sao?” Người đàn bà trả lời: “Con tôi là tình riêng, con anh tôi là nghĩa công. Con đẻ tuy đau xót thật, nhưng đối với việc nghĩa thì biết tính làm sao. Tôi không thể nào sống mà chịu mang tiếng vô nghĩa giữa làng giữa xóm được.
 
Viên tướng nước Tề vội cho dừng quân lại và sai người về tâu với vua: “Nước Lỗ chưa thể đánh được. Vì quân ta vừa mới đến chỗ biên cương đã thấy con mụ đàn bà nơi xó rừng còn biết đặt tình riêng trên nghĩa công, thì huống chi là những bậc quan lại sĩ phu trong nước. Nên xin vua cho rút quân về.” Vua Tề cho là đúng và đồng ý lui quân.
 
Thế đó, một quốc gia, một cộng đoàn hay một gia đình sẽ rất vững chắc khi có những con người biết nghĩa đến kẻ khác, dám hy sinh quyền lợi riêng tư cho sứ mạnh và sự nghiệp chung. Không một sức mạnh nào của kẻ thù mà lại không chùn bước trước sức mạnh của đoàn kết yêu thương.
 
Hình ảnh của người mẹ bỏ rơi đứa con mang nặng đẻ đau của mình để cứu đứa con của người anh nhắc tôi về hình ảnh của một người Cha “bỏ rơi” người Con yêu dấu của mình để cứu vớt kẻ khác: Hình ảnh của một Thiên Cbúa đã dứt lòng hy sinh mạng Con, đến nỗi người Con đó phải thốt lên trong đau đớn tột cùng: “Lạy Cha, sao Cha bỏ con,” một tiếng kêu xé lòng Cha. Nhưng chính nhờ sự hy sinh đó mà nhân loại đã được ơn giải thoát.
 
Thiên Chúa đã dâng hiến chính tình yêu giữa Cha và Con vì sự sống và hạnh phúc chung của toàn nhân loại. Thiết tưởng không có một tình yêu hay sự hy sinh nào lớn hơn tình yêu và hy sinh của Thiên Chúa.
 
Và tình yêu mời gọi đáp trả tình yêu. Thiên Chúa gọi mời bạn và tôi đáp trả tình yêu bằng cách sống như Ngài trong sự hiến dâng chính mình cho lợi ích của tha nhân và cộng đoàn.
 
Cách cụ thể, ta hãy cùng tự vấn: “Tôi có vì nghĩa công mà hy sinh ích riêng chưa? Tôi đã làm được gì cho giáo xứ? Tôi sẽ làm những gì cho cộng đoàn? Tôi đã dấn thân cho ích lợi của đất nước và dân tộc chưa?
 
Trả lời bằng những quyết tâm chân thành là ta đang trở nên những người môn đệ chân chính của Đức Kitô rồi đó.
 
 
 

46. Chiên con giữa bầy sói – Đỗ Lực
 
Từ thế kỷ VII, Tin Mừng đã được loan báo tại Trung Hoa. Trải qua hơn chục thế kỷ, các thừa sai không ngớt tìm cách rao giảng Tin Mừng cho nước đông dân nhất thế giới này. Trong nhiều thế kỷ, cuộc truyền giáo bị khựng lại vì những thử thách và bách hại. Có thể nói lịch sử Giáo Hội Trung Hoa trải qua năm giai đoạn. Từ thập niên 1980, cuộc loan báo Tin Mừng lần thứ năm khởi sự. Tới nay Giáo Hội Trung Hoa vẫn bị bách hại.
 
Giữa lúc Giáo Hội Trung Hoa đang gặp thử thách lớn lao vì những bách hại của nhà cầm quyền, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI viết một lá thư cho dân tộc Trung Hoa. Theo linh mục Federico Lombardi, Giám đốc Văn phòng Báo chí Tòa Thánh, lá thư đó cho thấy tình yêu Đức Kitô “làm cho con người đi vào một chiều kích mới, nơi lòng khoan dung và tình yêu mến đối với cả kẻ thù địch có thể làm chứng tá cho sự thắng thế của Thập giá trên mọi yếu đuối và bất hạnh của con người. Càng trở thành thuần Trung Hoa, Giáo Hội càng thực sự là chính mình. Đó chính là cốt lõi thông điệp tuyệt diệu, trung thực và cao cả của Đức Giáo Hoàng.” (1)
 
Lá thư của Đức Giáo Hoàng quả thực là một Tin Mừng cho người Trung Hoa. Dù bị cấm đoán và bưng bít, giáo dân Trung Hoa cũng vẫn bắt kịp nhịp sống Tin Mừng. Từ xưa tới nay, đã gặp bao nhiêu trở ngại, Giáo Hội Trung Hoa vẫn kiên cường. Tin Mừng vẫn tìm mọi cách lọt đến lòng người.
 
Cuộc truyền giáo ở Trung Hoa đã có một lịch sử lâu dài hơn Việt nam rất nhiều. Tin Mừng đến với họ sớm hơn chúng ta gần 10 thế kỷ. Vậy mà tới nay, giáo dân Trung Hoa cũng chỉ mới khoảng 15 triệu trong số gần 1.5 tỉ dân số. Phải chăng Tin Mừng bất lực? Bao giờ Nước Thiên Chúa mới đến với dân tộc Trung Hoa?
 
CÔNG TRÌNH THIÊN CHÚA
 
Đứng trước cánh đồng truyền giáo bao la là Á châu, nhất là Trung Hoa, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã hướng tầm nhìn Giáo Hội Hoàn vũ về miền đất linh thiêng trù phú đó. Nhưng suốt hơn 13 thế kỷ qua, vẫn chưa thấy mùa lúa chín trên cánh đồng truyền giáo Trung Hoa. Phải chăng thực tế không xảy ra như Đức Giêsu tiên báo?
 
Thực ra, “lúa chín đầy đồng” là công trình của Thiên Chúa, chứ không phải của con người. Thiên Chúa mới là chủ sai thợ đến gặt lúa (x. Lc 10:3). Ngay từ thời Chúa Giêsu, Giáo Hội đã sinh ra trong tình trạng thiếu thốn. Chính Chúa đã phải cảnh giác các môn đệ: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít.” (Lc 10:2) Đó là thân phận Giáo Hội. Lúc nào Giáo Hội cũng nghèo túng và thiếu phương tiện thi hành bổn phận. Nhưng càng thiếu thốn và nghèo túng, Giáo Hội càng được mời gọi đặt tất cả niềm tin nơi Chúa. Cánh đồng không thiếu lúa chín, nhưng chỉ thiếu những người thợ tin Thiên Chúa làm chủ cánh đồng. Chỉ tin như thế, họ mới không phản bội sứ mệnh khi xử dụng quyền lực và phương tiện trần gian. Nhờ niềm tin đó, họ dễ dàng sống khiêm tốn và vâng nghe Chúa Thánh Linh. Khiêm tốn chắc chắn là bí quyết làm cho công cuộc rao giảng Tin Mừng sinh hoa kết quả dồi dào. Chỉ nơi những người có lòng tin, Thiên Chúa mới thi thố tất cả quyền năng tuyệt đối. Người khiêm tốn biết nhường bước và đón chào ông chủ là Thiên Chúa vào vườn nho hay cánh đồng đầy lúa chín.
 
Cả về phương diện tập thể lẫn cá nhân, vật chất cũng như tinh thần, họ hoàn toàn bị tước đoạt vì Nước Thiên Chúa. Chúa nói: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường.” (Lc 10:3) Còn gì nữa đâu mà kiêu ngạo? Tất cả mọi phương tiện và tương quan xã hội đều phải trở thành xa lạ đối với họ. Chỉ còn một mình họ với Chúa trong công cuộc xây dựng và chiến đấu cho Nước Thiên Chúa. Như vậy chưa đủ sao? Khi nghe lời Chúa căn dặn: “Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói,” (Lc 10:3) người môn đệ nào chẳng run sợ? Run sợ vì lực lượng không cân xứng. Cuộc đối đầu vượt quá tầm sức chiên con. Sao Chúa không sai họ vào giữa đoàn chiên có phải tốt hơn không? Làm sao chiến thắng lực lượng sự ác lớn như thế? Nhưng kết quả lại về phần chiên con. Thật bất ngờ! Rõ ràng sức mạnh không từ môn đệ, nhưng từ Thày. Nếu Thày không là Thiên Chúa, làm sao chiến thắng lớn lao như thế?!
 
Chiến thắng lớn lao đó phát xuất từ thánh giá. Trước đây các môn đệ đã từng coi thập giá là biểu tượng cho sự thất bại và là gương mù cho dân ngoại. Nhưng “Thiên Chúa đã tôn vinh Người trên mọi sự …” vì Đức Giêsu đã “vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá.”(Pl 2:8-9) Khi tuyệt đối vâng phục thánh ý Chúa Cha, Người đã khám phá tất cả sức mạnh tình yêu và sự thật cần thiết cho công cuộc giải thoát nhân loại. Bởi đấy, Người đã tìm được niềm vui và cũng trở thành nguồn vui cho mọi người. Khi gặp khổ đau, thập giá và cái chết, Đức Giêsu đã kiên nhẫn biết chừng nào. Người kiên nhẫn vì tin rằng đó là thánh ý Chúa Cha. Tình yêu Chúa Cha đã khiến Người có sức mạnh phi thường. Không đối lực nào có thể thắng nổi.
 
Tin tưởng nơi Chúa, người môn đệ sẽ nhận ra tất cả những giới hạn của mình, nhưng đồng thời nhìn thấy những hoa trái lạ lùng do bàn tay Thiên Chúa hành động qua những phương tiện nghèo nàn. Sau một ngày mệt nhọc trong cánh đồng của Chúa, “nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: ‘Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con.’” (Lc 10:17) Tất cả đều nhờ sức mạnh Chúa.
 
SỨ ĐIỆP DUY NHẤT
 
Dù chỉ là chiên con bị tước lột trần trụi giữa bầy lang sói, người môn đệ vẫn hiên ngang bước theo Đức Kitô. Không phải lúc nào cuộc hành trình cũng trải đầy hoa hồng. Có nhiều lúc không êm ả chút nào. Những biến cố lớn nhỏ như sóng gió ập đến. Khi gặp thử thách như thế, có những người môn đệ quên cả việc rao giảng Tin Mừng và bẻ cong Tin Mừng theo thời đại và hoàn cảnh, mong thỏa mãn những nhu cầu trần tục. Họ tin vào sức mạnh phương tiện như các tổ chức trần thế. Cố gây sức mạnh bằng cách tăng cường nhân sự, phương tiện, của cải, quyền lực, danh vọng v.v.
 
Nhưng sức mạnh Nước Thiên Chúa không đến từ những phương tiện trần thế. Nước Thiên Chúa không thể biến đổi đến nỗi đánh mất bản chất. Người môn đệ phải có lập trường dứt khoát và rõ rệt. Chính Đức Giêsu đã minh xác với các môn đệ như thế. Dù được đón tiếp hay không, họ phải nhất quyết rao giảng cho mọi người: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.” (Lc 10:9.11) Không phải vì bầy sói đông quá mà khiếp đảm đến nỗi không dám mở miệng rao giảng Nước Thiên Chúa nữa. Không thể vì những lực lượng bất hảo hay bất chính đang siết gọng kìm mà không dám tranh đấu để xây dựng Nước Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa không thể dựa trên bất công, vì bản chất và nền tảng của Nước Thiên Chúa là công lý. Chính lập trường này làm cho người môn đệ đứng vững và ngẩng đầu hãnh diện trước những thách thức của kẻ thù. Lập trường đó chính Chúa đề ra và củng cố bằng sức mạnh Thánh Linh. Không có Thánh Linh không thể giữ nổi lập trường và sứ điệp duy nhất đó trong mọi hoàn cảnh. Hoàn cảnh rất phức tạp và khắc nghiệt. Hỏa mù vô cùng dầy đặc. Nếu Chúa không đưa ra nguyên tắc và sứ mệnh đó, chắc chắn không ai có thể phá vỡ cơn hỏa mù.
 
Khi hoạt động trong Giáo Hội, người môn đệ nhắm biến đổi toàn thể thế giới. Là phần tử Giáo Hội, họ có sứ mệnh phục vụ Nước Thiên Chúa, tức là tranh đấu cho công lý, hòa bình, tự do và mọi người biết tôn trọng nhân quyền. Tất cả đều nằm trong kế hoạch Thiên Chúa tối cao nhằm cứu độ muôn dân. Nhiều người muốn đánh lạc hướng khi chủ trương Nước Thiên Chúa vượt trên trần thế và nhằm xây dựng trời mới đất mới, chứ không phải trần gian. Bởi vậy, họ muốn biến sứ điệp của Đức Giêsu thành chuyện tư riêng hay cá nhân. Chiều cạnh xã hội của Nước Thiên Chúa hoàn toàn bị coi thường và quên lãng.
 
Ngày nay, dù sống trong hoàn cảnh nào, Kitô hữu cần phải nỗ lực cứu Chúa Giêsu khỏi ngục tù cá nhân chủ nghĩa và đem Người trở lại đời sống xã hội. (2) Nếu đặt Chúa Giêsu vào hoàn cảnh văn hóa xã hội thời Người và nhìn sứ mệnh Người trong bối cảnh phục hồi Israel và loan báo “năm đại hồng ân” cho dân Người, chúng ta sẽ thấy rõ sứ điệp Đức Giêsu hàm ý chính trị. Người muốn triệt để tái cấu trúc mọi cơ cấu xã hội hiện hành trên nền tảng giao ước. (3) Để thực hiện công cuộc đó, Người muốn mọi quyền lực trên đời phải mang tính tương đối và nhường bước cho những đòi hỏi của Nước Thiên Chúa. Có một số người muốn sứ điệp Đức Giêsu về Nước Thiên Chúa chỉ thuần túy mang tính tôn giáo và không liên quan tới các cơ cấu chính trị xã hội. Thực ra, Tin Mừng liên quan tới những thực tại sâu xa của trần thế. Bởi thế, sứ điệp của Chúa Giêsu là một phản ứng rõ rệt trước một thế giới đầy áp bức và những cơ chế của một trật tự xã hội bất công. (4)
 
CƠ HỘI PHỤC VỤ
 
Tới đây, chúng ta cần lắng nghe vị Đại Diện Chúa Kitô. Hoàn cảnh Giáo Hội Việt Nam cũng tương tự Giáo Hội Trung Hoa. Trong mọi hoàn cảnh, “Giáo Hội không thể và không được tự đảm nhận chính trường để đem lại một xã hội công bình nhất. Giáo Hội không thể và không được thay thế chính quyền. Tuy nhiên đồng thời Giáo Hội không thể và không đươc ở bên lề cuộc đấu tranh cho công bình. Qua lý chứng, Giáo Hội phải tham gia và phải thức tỉnh năng lực thiêng liêng cần thiết cho công lý chiếm ưu thế và thành công. Bao giờ công lý cũng đòi phải hy sinh. Một xã hội công bình phải là thành quả của chính trị, chứ không phải của Giáo Hội. Tuy nhiên cổ võ cho công bình qua những nỗ lực nhằm giúp cởi mở tâm trí và ý chí theo những đòi hỏi của công ích, là điều can hệ đến Giáo Hội cách sâu xa.
 
Nhờ những nguyên tắc không thể đảo ngược này hướng dẫn, những vấn đề đang tồn đọng không thể được giải quyết qua sự xung đột với các nhà cầm quyền dân sự hợp hiến. Nhưng đồng thời không thể tùng phục những nhà cầm quyền ấy khi họ can thiệp vô lý vào những vấn đề liên quan đến đức tin và kỷ luật của Giáo Hội. Các nhà chức trách dân sự cần nhận thức rõ Giáo Hội luôn dạy các tín hữu trở nên những công dân tốt, tôn trọng và đóng góp tích cực cho công ích của đất nước. Nhưng rõ ràng Giáo Hội cũng đòi hỏi Nhà Nước phải tôn trọng quyền tự do tôn giáo chân chính và bảo đảm cho những người dân Công Giáo được thi hành đầy đủ niềm tin của mình.” (5)
 
Đàng khác, Giáo hội được thành lập để phục vụ Nước Thiên Chúa, chứ không phải để chiếm chỗ của Nước Thiên Chúa. Nếu không phục vụ Nước Thiên Chúa, Giáo Hội sinh ra để làm gì? Phục vụ Nước Thiên Chúa nghĩa là tranh đấu cho xã hội ngày càng “công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.” (Rm 14:17)
 
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết can đảm phục vụ Nước Thiên Chúa, để công lý mau ngự trị trên quê hương yêu dấu chúng con. Amen.
 
——————————————————————
 
  1. VietCatholic 03/07/2007.
  2.  
  3. x. Hollenbach 1898:11-22.
  4.  
  5. Dictionary of Fundamental Theology 1995:589.
  6.  
  7. x. Hollenbach 1898:37-48.
  8.  
  9. ĐGH Bênêđictô XVI, Lá Thư Gởi Người CGTH, http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/letters/2007/documents/hf_ben-xvi_let_20070527_china_en.html
  10.  
 
 

47. Suy niệm của JKN
 
Câu hỏi gợi ý:
 
  1. Ngoài 12 tông đồ, còn có 72 môn đệ được Đức Giêsu sai đi tiếp nối sứ mạng của Ngài. 72 môn đệ đó tượng trưng cho ơn gọi nào trong Giáo Hội?
  2.  
  3. Tình hình nhân sự trong việc tiếp nối sứ mạng của Đức Giêsu trên thế giới hay trong xã hội chúng ta đang sống như thế nào? Khi ý thức điều ấy, bạn có nghe thấy Đức Giêsu mời gọi bạn làm gì không?
  4.  
  5. Để làm tông đồ, tức tiếp tục công việc cứu thế của Đức Giêsu, chúng ta phải làm gì? Chúng ta đã làm gì? Có gì cần sửa chữa trong quan niệm của chúng ta?
  6.  
Suy tư gợi ý:
 
  1. Ơn gọi làm tông đồ giáo dân
  2.  
Ngoài số 12 môn đệ được Đức Giêsu huấn luyện đặc biệt để sau này tiếp nối sứ mạng của Ngài, Tin Mừng Luca còn nói tới số 72 môn đệ được Ngài sai đi. Người ta thường ví ơn gọi của 12 môn đệ với ơn gọi tông đồ của hàng giáo phẩm và giáo sĩ, là những người thường được huấn luyện đặc biệt có trường lớp để tiếp nối sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu. Và ví ơn gọi của 72 môn đệ với ơn gọi tông đồ của giáo dân, là những người được huấn luyện ở trình độ phổ thông để làm tông đồ.
 
Đấy cũng là một cách hiểu khá hợp lý. Thực ra, bất kỳ người Kitô hữu nào một khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, đều được Đức Giêsu mời gọi tiếp tục sứ mạng của Ngài là cứu độ nhân loại. Vì thế, việc cứu độ nhân loại không phải là công việc dành riêng cho hàng giáo sĩ, mà là nhiệm vụ của bất kỳ người Kitô hữu nào, dù là giáo dân, đạo gốc hay tân tòng. Bài Tin Mừng hôm nay là một dịp nhắc nhở người giáo dân nhiệm vụ tông đồ hay cứu thế của mình. Đặc biệt những Kitô hữu đã có từng được đào tạo để làm tông đồ trong các chủng viện hay tu viện, mà nay lại đứng trong hàng ngũ giáo dân. Những người này thường được Thiên Chúa kêu gọi đặc biệt hơn những giáo dân khác.
 
  1. Sứ mạng của Đức Giêsu còn bao nhiêu việc phải làm
  2.  
Hễ nói tới câu Tin Mừng «Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về», chúng ta thường nghĩ ngay tới cánh đồng truyền giáo, làm như Giáo Hội chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là truyền giáo. Thực ra, Đức Giêsu đến là để cứu chuộc nhân loại, mà trong đó việc truyền giáo hay loan báo Tin Mừng chỉ là một phần, và chỉ là phương tiện để thực hiện mục đích cứu thế của Đức Giêsu. Nhiều khi người Kitô hữu quá quan tâm đến phương tiện này mà quên đi mục đích của nó, nghĩa là lấy chính việc loan báo Tin Mừng làm mục đích của việc tông đồ. Mục đích của Giáo Hội cũng như của Đức Giêsu không phải là loan báo Tin Mừng, mà là cứu nhân loại, không chỉ đời sau mà còn cả đời này nữa. Cứu nhân loại là làm cho nhân loại hay con người thoát khổ và hạnh phúc hơn. Loan báo Tin Mừng chỉ một trong những phương tiện phải làm để đạt được mục đích cứu độ đó.
 
Ý thức lại vấn đề như vậy, chúng ta thử tự hỏi: chúng ta đã quan tâm tới vấn đề cứu độ con người như Đức Giêsu chưa? Một cách cụ thể, chúng ta đã làm gì để những người chung quanh ta bớt đau khổ và hạnh phúc hơn? Sự hiện diện của ta, với tư cách người Kitô hữu hay tập thể Kitô hữu, có làm cho gia đình ta, những người chung quanh ta, xã hội ta đang sống bớt khổ đau và hạnh phúc hơn không?
 
Thế giới và xã hội con người hiện nay còn biết bao tội lỗi, đau khổ, bất công. Sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu chưa thực hiện được bao nhiêu, và còn biết bao việc phải làm. Nhưng có được bao người muốn dấn thân tiếp nối sứ mạng của Ngài? Việc thì nhiều mà nhân sự thì ít. Người Kitô hữu, dù là giáo dân hay giáo sĩ, có nghe thấy lời mời gọi tha thiết của Ngài không? Và nếu muốn tiếp tục sứ mạng của Ngài, chúng ta phải làm gì?
 
  1. Trình tự những việc phải làm của người môn đệ Đức Giêsu
  2.  
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu sai 72 môn đệ đi. Hãy coi lại xem Ngài truyền bảo họ những gì. Có những điều chính yếu được xếp theo trình tự thời gian mà cũng có thể là theo thứ tự quan trọng như sau:
 
  1. «Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép»: ý nói đừng quá lo toan về những nhu cầu vật chất, mà hãy chú tâm vào sứ mạng của mình. Việc này được đề cập đến đầu tiên, ắt nhiên là một điều rất quan trọng. Muốn cứu rỗi người khác mà lại quan tâm đến những nhu cầu vật chất của mình, vốn đòi hỏi rất nhiều tâm trí và năng lực của mình, thì còn đâu tâm trí và năng lực để cứu rỗi người khác?
  2.  
  3. «Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường»: ý nói sứ mạng khẩn cấp, cần tập trung thì giờ và năng lực vào sứ mạng của mình. Ngoài nhu cầu vật chất, còn những nhu cầu cá nhân khác, cũng cần phải dẹp bớt để tập trung thì giờ và năng lực vào việc cứu rỗi con người.
  4.  
  5. «Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này!”»: ý nói phải quan tâm tới sự bình an, thoải mái cho người mình gặp. Sự bình an, không phải sống trong lo âu, sợ sệt… về tinh thần cũng như thể chất là điều mà người môn đệ Chúa cần phải quan tâm thực hiện đầu tiên cho mọi người mình được sai đến. Đây là nhu cầu căn bản và cần thiết nhất của mọi người sống trong trần thế.
  6.  
  7. «Hãy chữa những người đau yếu trong thành»: ý nói hãy quan tâm đến đau khổ và hạnh phúc của mọi người, và cứu giúp họ trong khả năng của mình. Người môn đệ của Chúa cần phải quan tâm đến những nhu cầu hết sức cụ thể của con người. Phải cảm thông với niềm vui nỗi buồn, với hạnh phúc và đau khổ của mọi người, đồng thời phải cứu khổ và tạo điều kiện hạnh phúc cho họ một cách hữu hiệu.
  8.  
  9. Và sau cùng mới là «nói với họ: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”»: ý nói là phải loan báo Tin Mừng cho họ, tức nói với họ về Thiên Chúa, về nhu cầu tâm linh, về những gì thiêng liêng.
  10.  
Ta thấy trình tự trên thật là hợp lý. Người chung quanh ta có được ta quan tâm tạo bình yên và thoải mái cho họ, thì họ mới dám đặt niềm tin tưởng vào ta, và mới có điều kiện thoải mái để nghe ta nói những chuyện xem ra có vẻ ít thực tế hơn đối với đời sống của họ. Thế mà rất nhiều khi người Kitô hữu lại làm ngược lại trình tự mà Đức Giêsu đã đề nghị. Chúng ta lo loan báo Tin Mừng trước, và coi những việc đáng quan tâm hàng đầu kia vào hàng thứ yếu. Chính vì thế mà việc loan báo Tin Mừng của chúng ta trở thành thiếu thực tế, kém hữu hiệu, nên không được đón nhận bao nhiêu từ nhiều thập kỷ nay tại Châu Á. Do đó, chúng ta cần phải sửa lại quan niệm về cách làm tông đồ của chúng ta.
 
Cầu nguyện
 
Lạy Chúa, Công Đồng Vatican II nhắc nhở người Kitô hữu phải nhập thể nhiều hơn vào những lãnh vực trần thế để biến cải môi trường mình sống nên tốt đẹp hơn một cách hữu hiệu. Xin giúp con xét lại xem sự hiện diện của con đã biến cải môi trường con sống tới mức độ nào? Có làm cho những nơi mà con hiện diện tốt đẹp và hạnh phúc hơn không? Xin cho con biết quan tâm sống tinh thần Tin Mừng là tinh thần yêu thương trước đã, trước khi loan báo nó ra để người khác cùng sống theo. Xin giúp con biết yêu thương để quan tâm tới đau khổ và hạnh phúc của những người chung quanh con, và biến con trở nên một đấng cứu thế nho nhỏ trong môi trường nhỏ bé con đang sống, là gia đình con, là môi trường nghề nghiệp của con, khu xóm của con, v.v… Amen.
 
 
 

48. Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt
 
Tại vùng Trung Đông, dầu mỏ thì dồi dào nhưng lại khan hiếm nước trong lành. Một nhà thông thái nọ đi tìm suối nước thiêng. Khi nhìn thấy suối nước đó, ông vui mừng phấn khởi, chân bước nhanh đến suối. Sau khi giải khát nhờ nước trong mát của dòng suối, ông chụp hình dòng suối đó, có ý mang về cho đồng bào ông thấy mà tìm đến hưởng nguồn nước trong lành.
 
Vừa về đến nhà, thân quyến, bà con lối xóm xúm lại mừng ông. Mọi người đều nhận thấy gương mặt hân hoan rạng rỡ của ông. Ai nấy đều vồn vã hỏi cho biết điều gì đã đến với ông, làm sao ông vui mừng phấn khởi như thế! Ông kể lại cho họ nghe việc ông đã khám phá nguồn nước trong lành và mời gọi mọi người đến đó thưởng thức hương vị ngọt ngào của dòng suối. Ai cũng vui thích với tấm ảnh về nguồn suối đó. Họ mong có phương tiện đi đến đó để được tắm mát và vui hưởng hạnh phúc bên nguồn nước trong lành.
 
Khi Chúa Giêsu đến, Ngài không chỉ hứa ban cho chúng ta một dòng suối vật chất mà ban cho chúng ta chính Thịt Máu là Nguồn ban sức sống, là thần lương nuôi sống linh hồn chúng ta. Ngài tỏ cho chúng ta biết Thiên Chúa là Cha rất yêu thương chúng ta, và hứa đưa chúng ta về nơi hạnh phúc muôn đời.
 
Thế nhưng ai sẽ là người nói cho mọi người biết về suối nước trường sinh, về hạnh phúc Chúa dọn sẵn cho mọi người?
 
Chính Chúa Giêsu nói cho các Tông đồ và các môn đệ của Ngài và nhờ các ngài nói lại cho chúng ta. Khi chúng ta trở thành môn đệ Chúa thì có bổn phận nói lại cho anh em mình biết niềm hạnh phúc đó. Nguồn suối trường sinh từ Thiên Chúa thì không bao giờ cạn, ai đến lấy bao nhiêu tuỳ thích. Càng nhiều người đến thì dòng suối càng tràn đầy hơn. Vì vậy chúng ta đừng sợ thiệt thòi khi tiết lộ cho anh em mình về Tin Mừng đó, mà phải dành nhiều thời giờ để loan báo cho anh em tin vui trọng đại này.
 
Trong bài Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu sai 72 môn đệ đi loan báo Tin Mừng. Khi đi, Chúa dặn đừng chào hỏi ai dọc đường, cũng đừng mang theo tiền bạc giày dép. Môn đệ Chúa khi đi rao giảng đừng để tâm đến tiền bạc của cải nhưng hãy lo giúp mọi người tìm về Nước Chúa. Việc rao giảng cũng rất cấp bách cho nên không nên lân la, chào hỏi, nấn ná nói chuyện với người quen làm mất thời giờ. Người môn đệ Chúa không nên chậm trễ nhiệm vụ loan báo Tin Mừng Nước Chúa cho anh em mình.
 
Ngày hôm nay việc loan báo Tin mừng có còn cấp bách nữa không? Sự cấp bách đó vẫn còn và còn nhiều hơn nữa vì thế giới hơn 6 tỉ người, trong đó người Công giáo sốt sắng chưa được 1 tỉ. Còn rất nhiều người chưa biết Chúa, chưa hưởng được các Bí tích Chúa Giêsu đã lập ra. Nhân loại còn nhiều người đang chìm trong u tối, chưa nhận ra con đường dẫn đến lối trường sinh.
 
Lúa chín đầy đồng nhưng phải có thợ đi gặt về. Nước Chúa cần có những người thợ nhiệt thành, quên mình, đem bình an đến cho tha nhân. Loan báo Tin Mừng là việc làm cao quý Chúa giao cho chúng ta. Tuy nhiên, việc rao giảng Tin Mừng cho người khác đòi hỏi phải có sự chuẩn bị trước về kiến thức cơ bản, cách truyền đạt, lối giải thích dễ hiểu để cho người nghe dễ tiếp thu, dễ đón nhận.
 
Ngày nay, Giáo Hội đang hết sức mời gọi con cái mình dấn thân trong đời sống tu trì, truyền rao Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Thời nào cũng có những người nhiệt tâm làm sáng danh Chúa, đem nhiều người vào nước Chúa. Tuy nhiên, số người chưa biết Chúa vẫn còn quá nhiều. Vì vậy, Chúa đòi mỗi người chúng ta hãy gấp rút lo việc truyền giáo. Chúng ta thương anh em mình thì không thể nhẫn tâm ngồi nhìn họ sống mồ côi, không biết Chúa là Cha. Vì không biết Cha, họ hay lỗi phạm điều răn Chúa và dần dần đi đến hư mất.
 
Thế giới này đang cần ơn bình an Chúa ban. Chúng ta hãy đem bình an của Chúa đến cho mọi người. Bình an của Chúa không như thế gian ban tặng. Bình an của Chúa làm cho lòng mỗi người tràn đầy bác ái, sẵn sàng hy sinh bản thân cho người khác bớt phần khổ sở. Bình an của Chúa làm lương tâm thoải mái. Chỉ những ai có lòng yêu mến Chúa thật sự mới có được loại bình an này.
 
Bình an nhờ việc sống đạo. Nếu chúng ta không sống đạo thì làm sao có bình an thật từ Chúa mà cho anh em mình, làm sao nhắc nhở được người khác đến với đạo. Để đem người khác về với Chúa, mỗi người chúng ta hãy hy sinh, sống gương mẫu để thu hút lương dân tìm đến sự thật mà được ơn cứu độ. Chúng ta hãy tìm hiểu ý Chúa trong Phúc Âm, giáo lý trong lương tâm ngay thẳng. Mọi người chúng ta hãy hợp nhất với nhau trong tình huynh đệ. Chính Chúa Giêsu đã nói rằng: Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy là các con hãy yêu thương nhau như thầy đã yệu thương các con. Chúng ta thấy rằng 9 người 10 ý. Nhưng ai yêu mến Chúa và anh em thì sẵn sàng bỏ một số ý riêng để làm vui lòng nhau và đẹp lòng Cha chung của chúng ta.
 
Lạy Chúa Giêsu, xin sai chúng con đi làm chứng cho Chúa, cho chúng con trở nên muối men, ánh sáng cho đời bớt tăm tối và đau khổ. Con sẽ trung thành yêu mến Chúa và nguyện hướng về Chúa cho đến muôn đời. Xin Chúa phù trợ cho chúng con luôn. Amen.
 
 
 

49. Suy niệm của nhóm Gp Vĩnh Long
 
Anh chị em thân mến.
 
Trong thời buổi kinh tế thị trường, tất cả mọi mặt hàng đều phải có chất lượng, nếu muốn được đứng vững. Chúng ta nhìn thấy có rất nhiều nhóm người, họ mặc đồng phục, trên nón và trên áo có ghi tên sản phẩm mà họ mang đi. Đó là những chuyên viên tiếp thị.
 
Họ đi giới thiệu sản phẩm. Không biết sản phẩm họ giới thiệu như thế nào, mọi người đều chưa biết. Nhưng trước tiên, những con người này phải có một phong cách cho xứng đáng, thì sản phẩm của họ mới được nhiều người biết đến. Thế mà cũng có những người lừa đão. Họ cũng giới thiệu sản phẩm và có trúng thưởng. Rất nhiều người bị sụp vào bẩy, họ phải trả một số tiền, để nhận món hàng cùng với quà trúng thưởng mà cay đắng. Những chuyên viên tiếp thị như thế, chắc không ai muốn nhìn thấy họ thêm lần nào nữa.
 
Chúa Giêsu nhìn thấy những khách hàng của Ngài đang thiếu thốn, đang khao khát. Ngài sai các chuyên viên tiếp thị của Ngài đến với họ. Các chuyên viên này không giới thiệu mặt hàng để mang mối lợi về kinh tế. Nhưng giới thiệu Nước Trời. Những người được sai đi cũng phải có phong cách của Nước Trời. Họ đến đem sự Bình an cho những khách hàng của họ, đồng thời còn chữa lành những chứng bệnh, những đau khổ của con người. Muốn được như thế trước tiên họ phải co, thì mới có thể cho được. Họ không được mang gì hết, không được tìm những phương thế để bảo vệ cho thân xác. Nhưng mang hành trang của nước trời, đó là sự bình an.
 
Họ đã thành công, đã tìm được thị trường cho Nước Trời. Họ vui mừng báo tin cho chủ mình. Niềm vui của họ còn được đong đầy thêm vì đã được chắm công để trọng thưởng, không phải như niềm vui chóng qua, nhưng là phần thưởng đời đời cho những người xứng đáng.
 
“Lúa chính đấy đồng mà thợ gặt thì ít.”
 
Mỗi ngày lời mời gọi càng cấp thiết hơn. Mỗi ngày nhu cầu con người càng cần thiết hơn, càng chờ đợi, càng khao khát nhiều hơn.
 
Thị trường hôm nay rất cần những chuyên viên tiếp thị cho nước trời. Chúa Giêsu cũng nói với những con người của thời đại mới, những người trong chúng ta:” Lúa chính đầy đồng mà thợ gặt thì ít.” Ngài cũng sai chúng ta làm những chuyên viên tiếp thị cho Nước Trời. Chúng ta cũng đã gia nhập, đã lãnh sứ mạng. Mỗi người cũng đã ra đi, đã rao giảng. Có người trở về báo cáo được vui mừng vì kết quả tốt đẹp, nhưng cũng có người không dám nói gì hết, vì đã hoàn toàn thất bại.
 
Giờ này đây, mỗi người ngồi trước mặt Chúa và báo cáo thành tích của mình đi. Trải qua bao nhiêu năm tháng của đời người, đó là những năm tháng mà Thiên Chúa mời gọi đi rao giảng, đi tiếp thị, giới thiệu Nước Trời cho người khác. Mỗi người một hoàn cảnh, một môi trường khác nhau. Rao giảng tiếp thị không chỉ bằng lời nói suông, nhưng còn bằng cả con người, cả cuộc sống. Cứ nhìn lại xem, những người chung quanh, khi nhìn vào đời sống của chúng ta và họ nhận ra được gì? Họ nhận ra được một Chúa Kitô đang sống, đang hoạt động, đang mời gọi họ, đang phục vu, đang yêu thương tất cả mọi người. Hay họ nhận ra một con người trần thế, với những tiền bạc, với những tham lam, những nóng nãy giận hờn, với những ích kỷ nhỏ nhen, với những mánh khóe mưu mô mà họ không dám đến gần được nếu không muốn bị hại.
 
Nhìn lại quãng đời đã qua như thế, chúng ta sẽ thấy được báo cáo của mình mang lại niềm vui hay nỗi buồn. Nếu là vui mừng, chúng ta cũng được vui mừng thêm vì tên chúng ta đã được ghi trên trời. Còn nếu chưa hòan thành được trách nhiệm của một chuyên viên tiếp thị cho Nước Trời, thì giờ đây cũng vẫn còn thời gian để chúng ta làm lại, sữa đỗi lại cách giới thiệu, qua việc sữa đỗi cách sống, cho xứng đáng, thích hợp hơn. Có như thế, chúng ta sẽ đạt được niềm vui nước trời.
 
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta biết lắng nghe mệnh lệnh của Chúa, để hoàn thành trách nhiệm thật tốt trong hoàn cảnh sống và đạt được niềm vui Nước Trời.
 
 
 

50. Thi hành sứ mạng của Đức Kitô
 
(Suy niệm của Gp. Vĩnh Long)
 
Anh chị em thân mến!
 
Sau một thời gian được ở với Thầy nay các môn đệ được Chúa Giêsu sai đi làm công tác tông đồ, loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa cho muôn dân mà ưu tiên là dân Israel. Hôm nay thánh Luca ghi lại khung cảnh “xuất quân” của đoàn môn đệ Chúa Giêsu. Qua đoạn Tin mừng Lc 10, 1-9 ta được đọc hôm nay ta học được tính chất của sứ điệp cũng như nội dung của sứ điệp mà Chúa Giêsu muốn các môn đệ mình loan báo. Chúa Giêsu sai các môn đệ và Ngài cũng sai mỗi người chúng ta cộng tác để cho Nước Chúa được lan rộng. Ta hãy suy niệm để biết phải thực hiện như thế nào và cần loan báo những gì cho triều đại Nước Thiên Chúa.
 
Trước hết người môn đệ rao giảng tin mừng phải là người được Chúa Giêsu sai đi, đi từ hai người một và vào các thành mà chính Chúa Giêsu sẽ đến. Nhiệm vụ của các môn đệ này là như những nhà tiền trạm, dọn đường để Chúa Giêsu thực hiện sứ mạng. Nhưng phải đi hai người một và không mang bao bị, túi tiền, giày dép… cho thấy nhiệm vụ này là một nhiệm vụ khẩn thiết phải biết bỏ đi những gì thứ yếu để chọn cái chính yếu là loa n báo Đấng Cứu Thế. Phải đi hai người một vì là người minh chứng nên chứng này phải thật mà thật thì phải có hai người trở lên như quy ước thời ấy. Vả lại việc loan báo tin mừng không phải là việc của cá nhân riêng lẻ mà là việc của cộng đoàn và cũng không phải là độc quyền của riêng ai nhưng phải liên kết với nhiều người khác. Ý thức mình là người được sai đi chứ không phải là chủ nên người môn đệ phải xin chủ ruộng chính là Thiên Chúa cho mình được làm thợ gặt trong cánh đồng của Chúa tức là làm người loan báo tin mừng. Chúa Giêsu còn dạy tỉ mỉ các môn đệ về các vấn đề cơ bản của công tác truyền giáo như “Đừng mang theo bao bị, túi tiền, giầy dép… đừng đi nhà này sang nhà kia…”. Như đã nói sứ điệp nước Thiên Chúa là chính yếu phải làm sao cho sứ điệp ấy được loan báo. Nhưng sứ điệp đó là gì? Sứ điệp đó là Bình An, là Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Nều liên kế với những câu trước ta thấy ChúaGiêsu chính là Bình An, là Triều đại Nước Thiên Chúa đang đến các môn đệ đang mở đường để Chúa Giêsu đến được với mọi người. Chúa Giêsu đang đến với con người, Ngài là Vua Bình An, là Đấng Cứu Độ, ai đón nhận Ngài thì được hưởng sự bình an, được hưởng ơn cứu độ, con ai từ chối Ngài thì đã tự tách mình ra khỏi sự sống ắt hẳn đi đến diệt vong.
 
Bài Tin mừng hôm nay cho ta thấy sứ mạng loan báo Tin mừng là công việc của chính Thiên Chúa nên muốn là thợ gặt phải cầu xin chủ ruộng để được là thợ gặt. Người loan báo tin mừng phải là người được sai đi nên ta hãy ý thức việc loan báo tin mừng không phải là phát kiến từ cá nhân nhưng là từ Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta được mời gọi trở nên thợ gặt của Chúa. Y thức đây là việc của Chúa nên ta hãy biết phó thác trông cậy vào Chúa, và để khi thành công ta không tự hào tự mãn cũng như khi thất bại ta không chán chường buông xuôi. Tất cả là do thánh ý Thiên Chúa, chúng ta là người được Thiên Chúa mời gọi cộng tác.
 
Được mời gọi theo Đức Kitô, làm công việc của Đức Kitô ta hãy nghe lời Ngài mà trang bị hành trang lên đường thật nhẹ nhàng khiêm tốn. Hãy tín thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Khi Chúa sai chúng ta đi chắc chắn Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta mọi thứ để chúng ta có thể chu toàn sứ mạng quan trọng là chúng ta có biết phó thác hay không. Ngày nay là thời của tiến bộ khoa học, nhưng đòi hỏi của tiền tài vật chất lôi kéo chúng ta và đôi khi làm ta mờ tối đến độ coi đó như là những nhu cầu chính yếu để ta có thể loan báo Tin mừng hiệu quả. Hãy nhớ rằng ta đang loan báo sự gì, loan báo tin mừng của Chúa hay chính bản thân chúng ta. Cái gì là chính yếu Lời Chúa hay tiền tài vật chất.
 
Người môn đệ của Chúa Giêsu cũng đòi hỏi phải là con người của bình an. Bởi Chúa Giêsu chính là bình an đích thực. Loan báo Chúa Giêsu là loan báo sự bình an, mà có loan báo sự bình an được đòi hỏi người môn đệ phải là người có sự bình an trước tiên. Bình an không chỉ là thư thái, thoải mái mà là Nước Thiên Chúa đang đến, là ơn cứu độ đang đến.
 
Ước gì ta biết sống khiêm tốn, giản dị để biết phó thác mọi sự cho Chúa.
 
Ước gì tha nhân nhận được nơi chúng ta sự bình an đích thực khi ta biết sống gắn bó với Chúa.
 
Ước gì mỗi người Kitô hữu chúng ta thực hiện được căn tính của mình là đem Tin mừng cho những người xung quanh.
 
 
 

51. Vài nguyên tắc truyền giáo của Chúa Giêsu
 
(Suy niệm của Lm. Thiện Duy)
 
Vào tháng 10 năm 1987, Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, người sẽ được Đức Giáo Hoàng Phanxicô tuyên thánh vào tháng 08 sắp tới, đã triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới để cùng nhau nghiên cứu vấn đề “ơn gọi và sứ mạng của người giáo dân trong Giáo Hội và trong thế giới ngày nay”. Từ Thượng Hội Đồng này, một tông huấn mang tựa đề: “Người Kitô hữu giáo dân” đã được công bố. Trong đó, Đức Thánh Cha nói: “Giáo dân, vì là thành phần của Giáo Hội, nên mang ơn gọi và sứ mạng loan báo Tin Mừng. Các bí tích khai tâm kitô giáo và các ân huệ của Chúa Thánh Thần đã trang bị khả năng và thúc giục họ thi hành sứ vụ của mình” (số 33). Đức Thánh Cha còn nói: “Chắc chắn rằng: mệnh lệnh của Chúa Giêsu ‘Hãy đi loan báo Tin Mừng’ vẫn mang giá trị trường tồn và đặt ra một cách cấp bách. Tuy nhiên, tình trạng hiện nay trong thế giới, đang đòi hỏi tuyệt đối phải thực thi mệnh lệnh của Chúa một cách khẩn trương và quảng đại hơn. Một người môn đệ đích thực của Chúa Kitô không có quyền từ chối lời đáp trả của riêng mình: “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Cho hay, cái mới mẻ trong việc thực thi cuộc loan báo Tin Mừng là tất cả toàn dân Chúa, không phân biệt nam nữ, già trẻ, giàu nghèo, mạnh yếu. Tất cả đều được sung vào việc tông đồ truyền giáo”.
 
Phụng vụ lời Chúa hôm nay sẽ cho chúng ta thấy nguyên tắc hoạt động của người môn đệ Chúa. Nguyên tắc này do chính Chúa Giêsu, người khởi sự công tác truyền giáo và cũng là linh hồn của việc truyền giáo chỉ dạy.
 
  1. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
  2.  
  3. Bài đọc I: (Is 66, 10-14c)
  4.  
Bối cảnh của bài đọc I là khi vua Cyrus của nước Ba Tư vừa tiêu diệt được đế quốc Babylon và ký sắc lệnh hồi hương cho người Do Thái. Họ rất phấn khởi vì cuối cùng họ cũng được giải thoát. Trong bối cảnh đó, tiên tri Isaia đã nói tiên tri về phúc lành mà Thiên Chúa sẽ tuôn đổ xuống dân chúng. Điều quan trọng nhất trong phúc lành này là ơn bình an: “Này Ta tuôn đổ xuống thành đô, ơn bình an như dòng sông cả” (Is 66, 12).
 
  1. Bài Đọc II: (Gl 6, 14-18)
  2.  
Thánh Phaolô tự hào về cây thập giá của Đức Kitô: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6, 14). Nhờ quy tắc đó mà thánh nhân được bình an. Để rồi thánh nhân cầu chúc cho mỗi người chúng ta: “được bình an và lòng thương xót của Thiên Chúa” (Gl 6, 16) nhờ biết yêu mến và rao giảng cây thập giá.
 
  1. Tin Mừng: (Lc 10, 1-12. 17-20)
  2.  
Đây là bài sai truyền giáo chính thức của Chúa Giêsu. Chúng ta phải phân biệt các Tông Đồ, tức nhóm 12 là những người được Chúa Giêsu chọn gọi một cách đặc biệt, ở sát bên Chúa Giêsu; và các Môn đệ, tức nhóm 72, không theo sát Chúa Giêsu, họ vẫn còn gia đình, vợ con, công việc riêng… nhưng khi nào mùa màng rãnh rỗi, hoặc được Chúa Giêsu triệu tập thì họ đến.
 
Trong Tin Mừng Matthêu và Maccô, Chúa Giêsu chỉ sai các Tông Đồ thôi, nhưng Luca thì sai cả các Môn đệ nữa, để chúng ta thấy tính phổ quát của công việc truyền giáo. Ai cũng phải truyền giáo chứ không phải chỉ những người được tuyển chọn. Trong bài sai truyền, Chúa Giêsu đã đưa ra những nguyên tắc hoạt động cho những cán bộ truyền giáo. Nguyên tắc đó không phải chỉ áp dụng cho các Môn Đệ của Chúa thời đó, mà còn là nguyên tắc cho mọi thời trong công cuộc truyền giáo.
 
  1. NGUYÊN TẮC TRUYỀN GIÁO
  2.  
Mỗi người chúng ta khi lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta cũng lãnh nhận sứ mạng truyền giáo, vì “truyền giáo là bản chất của Giáo Hội”. Vì vậy chúng ta cũng phải nắm vững những nguyên tắc này.
 
  1. Cầu nguyện:
  2.  
Trước hết, Chúa Giêsu nói: “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Lc 10, 2). Vì vậy cầu nguyện chính là linh hồn của việc truyền giáo. Sở dĩ Chúa muốn chúng ta phải cầu nguyện trong truyền giáo là vì đây là công việc thuộc lãnh vực siêu nhiên. Sức tự nhiên của con người không thể nào làm được điều này. Cán bộ truyền giáo phải là con người của cầu nguyện. Vì khi cầu nguyện chúng ta mới tiếp xúc với lãnh vực siêu nhiên để từ đó mới có thể thi hành đúng theo những hoạch định thần thiêng. Qua bài đọc I và bài đọc II, chúng ta thấy ơn ban quan trọng nhất của Chúa là ơn bình an. Người cán bộ của Chúa chỉ có được bình an trong cầu nguyện.
 
Tôi thích và nhớ mãi hình ảnh ông Jim mà vị tôi tớ Chúa, Đức Hồng Y Px. Nguyễn Văn Thuận kể. Khi còn khỏe, mỗi ngày ông đến nhà thờ lúc 12 giờ trưa không quá 2 phút. Ông từ rất thắc mắc nên theo dõi. Một hôm ông chận Jim lại và hỏi: “Tại sao bác vào đây mỗi ngày?”. “Tôi vào để cầu nguyện”. “Quái lạ, kinh gì mà đọc trong vòng 2 phút?” Jim trả lời: “Tôi vừa già, vừa dốt nên đọc kinh theo kiểu của tôi. Tôi chỉ nói: “Lạy Chúa, Jim đây!”. Thời gian trôi qua, Jim già cả, bệnh tật, phải vào bệnh viện để điều trị. Sau đó Jim yếu liệt và chuẩn bị ra đi. Một Linh mục và một nữ tu đến hỏi thăm: “Jim ơi, hãy nói cho chúng tôi biết, tại sao từ ngày ông vào đây, bệnh viện có nhiều thay đổi, bệnh nhân vui vẻ, chấp nhận thuốc thang, sống có tình nghĩa hơn?” Jim trả lời: “Đơn giản thôi, lúc còn khỏe, Jim đi thăm mọi người, lúc đi không nổi, Jim nhớ và gọi tên mọi người, với Jim ai cũng vui hết”. “Thế tại sao Jim vui, Jim hạnh phúc?”. Jim trả lời vì ngày nào Jim cũng có người đến thăm hết. Mọi người thắc mắc, có thấy ai đâu? Jim bảo: “Lúc trước 12 giờ trưa, Jim đi thăm Chúa Giêsu, còn bây giờ trưa nào Chúa Giêsu cũng đến thăm Jim”? “Ngài nói gì với Jim”? Ngài nói: “Jim ơi, Giêsu đây!” Cầu nguyện làm cho chúng ta có Chúa Giêsu. Có Chúa Giêsu làm cho chúng ta được bình an. Bình an làm cho chúng ta trở thành người nhiệt tâm lo việc truyền giáo hơn.
 
  1. Phó thác:
  2.  
Điều thứ hai, Chúa Giêsu nói: “Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói” (LC 10, 3). Có phải là Chúa “đem con bỏ chợ không?” Có phải là Chúa đẩy chúng ta tới chỗ nguy hiểm không? Thưa không, nhưng Chúa muốn người cán bộ truyền giáo phải biết phó thác. Bản thân mình luôn luôn gặp nguy hiểm, không gì che chở bảo, không có gì bảo đảm cho, ngoài Chúa. Nhân đức phó thác là nhân đức tối cần nơi người cán bộ truyền giáo.
 
Tôi có ông cha bạn làm cha phó ở họ đạo Kinh Nước Lên dưới Cà Mau, phụ trách thêm những họ lẻ xung quanh. Có những họ phải vượt qua những con sông lớn hàng giờ mới tới. Trong đợt áp thấp nhiệt đới vừa rồi, ông đi làm lễ về, sóng to, gió lớn, máy chạy tới không được, quay lại không xong, cứ lòng vòng lòng vòng giữa sông lớn. Ổng sợ quá sức, ổng nói chẳng lẽ mình hưởng dương ít vậy ta!? Người môn đệ Chúa luôn ở trong tư thế nguy hiểm, nên phải biết phó thác.
 
  1. Ưu tiên cho việc loan báo Tin Mừng:
  2.  
Chúa Giêsu nói: “Đừng chào hỏi ai dọc đường” (Lc 10, 4). Nếu nói như vậy, có phải Chúa dạy cán bộ truyền giáo trở thành những con người bất lịch sự, gặp người quen cũng không chào luôn? Những người khó tính, nhất là những người lớn tuổi người ta nói mình khó ưa, mất dạy, không biết chào hỏi ai hết, vì người xưa nói: “Lời chào cao hơn mâm cỗ”… Không phải, Chúa Giêsu nói vậy vì nghi thức chào hỏi của người phương đông rất rườm rà, mất thời giờ. Chúa dạy cho cán bộ của Chúa đừng mất giờ vô ích vì việc loan báo tin mừng là việc gấp rút: “Lúa chín đầy đồng mà thờ gặt thì ít”, phải biết tận dụng thời giờ đi gặt lúa, kẻo chim chuột ăn hết.
 
III. BỔN PHẬN CẤP BÁCH CỦA MỌI KITÔ HỮU
 
Truyền giáo không là việc của riêng ai, nhưng là bổn phận cấp bách của mọi kitô hữu. Mọi người phải truyền giáo ngay chính trong môi trường, hoàn cảnh của mình. Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới năm 1987 đã định nghĩa vị thế độc đáo của người giáo dân giữa lòng Giáo Hội và giữa thế giới bằng hai mệnh đề như sau: “Giáo dân là ‘ người của Giáo Hội’ trong lòng thế giới”. “Giáo dân là ‘người của thế giới’ trong lòng Giáo Hội”. Là người của Giáo Hội, người giáo dân phải đem Giáo Hội và Chúa Giêsu vào trong thế giới. Và là người của thế giới, giáo dân phải đem thế giới đến cùng Giáo Hội và Chúa Kitô”.
 
Vì vậy mỗi người chúng ta dù là linh mục, tu sĩ hay giáo dân đều phải nắm vững một vài nguyên tắc mà Chúa Giêsu đã dạy để chúng ta trở thành những cán bộ truyền giáo lành nghề và nhiệt thành, đó là: Cầu nguyện, phó thác và ưu tiên truyền giáo, để chúng ta có thể đem tin mừng bình an đến cho anh chị em xung quanh mình.
 
Cầu nguyện để có được sức mạnh của Chúa. Chính vì vậy kinh hôm, kinh mai, lần chuỗi mân côi, xưng tội, viếng Thánh Thể, tham dự thánh lễ, nhất là ngày Chúa nhật… là những việc không thể thiếu của một người giáo dân Tông Đồ.
 
Phó thác để dấn thân trong đời sống đức tin. Chính vì vậy người Tông Đồ của Chúa không được sợ hãi trong bất cứ cảnh ngộ nào của cuộc sống, nhưng phải biết vươn lên, vươn lên mỗi ngày vì có bàn tay Chúa nâng đỡ.
 
Ưu tiên truyền giáo để khỏi lạc hướng. Ai? Ở đâu? Làm gì? Thế nào?… cũng phải nghĩ đến việc làm sao cho Nước Chúa trị đến.
 
Nói tóm lại, Phụng vụ lời Chúa ngày hôm nay một lần nữa mời gọi chúng ta ý thức lại sứ mạng truyền giáo của mình, vì chính Chúa Giêsu đã sai mỗi người và từng người chúng ta vào cuộc đời này để sống và loan báo Tin Mừng. Muốn trở thành một cán bộ truyền giáo của Chúa, chúng ta phải thực hành những nguyên tắc mà Chúa Giêsu đã đưa ra, trong đó có việc cầu nguyện, phó thác và ưu tiên truyền giáo. Xin ơn Chúa giúp qua lời bầu cử của Mẹ Maria, người nữ truyền giáo đầu tiên; của thánh cả Giuse, người trợ tác đắc lực của Chúa; và cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, người luôn quan tâm đến dân ngoại, cho chúng ta có một nhiệt tình truyền giáo cùng với lòng đạo đức và sự phó thác, để chúng ta thực sự trở thành một cán bộ truyền giáo của Chúa.
 
 
 

52. Sứ giả hoà bình
 
Giả như có một gia đình hay một cộng đoàn vì lý do nào đó phải sống trong tình trạng bất hoà. Các thành viên chống đối và tìm nhiều cách để hại nhau. Lúc ấy chắc chắn những người trong cuộc không còn sáng suốt nữa. Từ đó họ trở nên những người gây mất bình an cho nhau. Bởi lẽ, họ đang có xung đột nội tâm. Trường hợp như thế rất cần một hay nhiều người ngoài cuộc đến giúp kiến tạo hoà bình.
 
Con người dường như sống trong bất cứ thời đại nào cũng đều có khuynh hướng gây bất hoà cho nhau. Ngay từ những trang đầu của Bộ Kinh Thánh đã cho thấy ông Ađam đã hớn hở reo lên khi Thiên Chúa dẫn đến cho ông bà Eva: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!” (St 2, 23). Tuy nhiên, sau khi phạm tội thì ông lại trở mặt với bà. Chúa hiện đến hỏi, ông đã vội vàng đổ lỗi cho bà cách không thương tiếc: “Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn” (St 3, 12). Con người trở nên bất hoà nhau kể từ đấy. Vì ghen tỵ mà Cain đã không ngần ngại giết chính em ruột của mình là Abel (St 4, 1-16).
 
Các Tông đồ theo Chúa Giêsu cũng không tránh khỏi khuynh hướng ấy. Các ông đã tranh giành địa vị lẫn nhau (Mc 10,35 – 40). Càng sống trong tình trạng như vậy chúng ta sẽ càng trở thành những người mất bình an. Hiểu được tình trạng đó nên Thiên Chúa đã dùng mọi cách đem lại bình an cho con người chúng ta. Chính Chúa Giêsu là hiện thân, là sứ giả hoà bình hoàn hảo của Thiên Chúa. Ngày Chúa Giêsu sinh ra các sứ thần đã tung hô: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2, 14).
 
Chúa Giêsu cũng muốn cho có nhiều người chia sẻ sứ mạng ấy với Người. Vì thế, hôm nay Người chỉ định thêm 72 môn đệ nữa. Con số 72 là con số hoàn hảo theo quan niệm của người Do thái. Nghĩa là Người muốn cho mọi người được hưởng sự bình an. Đồng thời, Người cũng muốn cho mọi người biết đem đến sự bình an cho nhau.
 
Người ta thường nói: “An cư thì mới lập nghiệp” hay “Người ta không thể cho cái gì họ không có”. Do đó, làm sao chúng ta có thể là sứ giả hoà bình khi trong chính tâm hồn của mình còn sự xung đột. Để tránh sự xung đột ấy Chúa Giêsu chỉ cho các môn đệ cũng như cho chúng ta: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường.Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: Bình an cho nhà này” và “Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia”. Điều quan trọng là hãy loan báo “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”.
 
Chúng ta đang sống trong thế giới mà phần đông người ta chỉ biết đổ xô nhau tìm kiếm những tiện nghi vật chất đời này. Họ tưởng rằng tiện nghi vật chất đời này sẽ đem lại bình an. Nhưng thật ra tiền bạc vật chất chỉ là phương tiện cho cuộc sống. Nếu chúng ta xem nó như cứu cánh đời mình thì nó chỉ đem lại sự bình an giả tạo. Bởi vì để có nhiều tiền của, người ta có thể bất chấp tất cả. Thậm chí anh chị em ruột cũng sẵn sàng hại nhau.
 
Chỉ khi nào sống theo Lời Chúa dạy và những chỉ dẫn của Giáo hội chúng ta mới có được bình an đích thực. Khi đó tự nhiên những ý muốn và những cách sống ghen tỵ, ganh ghét, chia rẻ…sẽ tự nhiên biến mất khỏi ta. Và khi ấy chúng ta đang là sứ giả hoà bình đích thực của Thiên Chúa cho những anh chị em xung quanh.
 
 
 

53. Khí cụ bình an – Lm Vũ Minh Nghiễm
 
Năm 1980, một tờ báo nọ có đăng một câu truyện lạ.
 
Một người đi chợ đậu xe trước cửa nhà hàng. Mua đồ xong trở ra xe, thì thấy một tấm giấy để trên chỗ ngồi với hàng chữ như sau:
 
“Thưa bác, tôi định ăn cắp xe của bác. Khi đang nổ máy, sắp trộm xe lái đi, tôi nhận thấy một tấm giấy gắn trên cửa xe, với hàng chữ: Bình an cho bạn. Tôi dùng tay lại, và suy nghĩ. Tôi lý luận rằng: Nếu tôi ăn cắp xe của bác, chắc chắn bác sẽ mất bình an. Và tôi cũng sẽ cảm thấy giao động. Nếu ăn cắp xe của bạn thì đây sẽ là lần đầu tiên tôi đi làm cái nghề này. Vậy, bình an cho bạn và bình an cho tôi. Lần sau khi đi chợ, bác nhớ khóa xe cẩn thận.
 
Ký tên: Người dự tính ăn trộm
 
Câu chuyện lạ trên đây giúp chúng ta hiểu lời Chúa phán hôm nay trong Phúc âm: “Khi vào nhà nào, trước tiên các con hãy chúc bình an cho nhà đó. Nếu nhà nầy có con cái của sự bình an, thì sự bình an của các con chúc sẽ đậu trên người ấy, bằng không, sự bình an sẽ trở về với các con.”
 
Người định ăn trộm kia phải là con cái của sự bình an, là một người có tâm hồn đoan chính, nên tấm bảng: “Bình an cho bạn”, đã mang lại sự bình an cho anh ta.
 
Nhưng sự bình an của Đức Kitô mà Ngài dạy các môn đệ hãy chúc cho người khác, là thứ bình an nào? Đức Kitô muốn nói gì, khi Ngài nói “Bình an cho các con?”
 
Thưa: Khi Kinh thánh dùng chữ bình an, thì sự bình an nầy có thể có 4 nghĩa.
 
Bình an theo nghĩa thứ nhứt, là nghĩa quân sự, tức là không có chiến tranh. Trên bình diện quốc gia, không có cuộc huynh đệ tương tàn. Trên bình diện quốc tế, không có việc nước nầy sát phạt nước kia. Bình an quân sự là nghĩa thứ nhứt.
 
Nghĩa thứ hai là nghĩa cá nhân. Khi chúng ta nói: “Hôm nay tôi cảm thấy tâm hồn thoải mái an hòa, đó là sự bình an cá nhân.
 
Nghĩa thứ ba là nghĩa tôn giáo. Kinh thánh dùng tiếng bình an, theo nghĩa tôn giáo nầy để chỉ một sự liên hệ giữa Thiên Chúa và chúng ta. Khi nói: “Tôi được bình an với Chúa”, chúng ta chỉ sự bình an theo nghĩa thứ ba.
 
Sau hết, Kinh thánh dùng tiếng bình an để chỉ một trạng thái của thiên hạ trong đó mọi người được an hòa với Thiên Chúa, với những người chung quanh và với chính mình.
 
Đó là sự bình an của Đức Kitô. Đó là sự bình an mà Đức Kitô muốn nói khi Ngài phán:
 
“Thầy để lại sự bình an cho các con. Thầy ban bình an của Thầy cho các con.” (Ga 14:27)
 
Trong thánh lễ, linh mục nhắc lại sự bình an đó trước khi rước lễ. Sự bình an nầy chính là sự thể hiện Nước Chúa trên trần gian, mỗi khi chúng ta đọc kinh Lạy Cha: Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng. Nước Cha trị đến.. dưới đất cũng như trên trời”.
 
Đó chính là sự bình an mà Đức Giêsu truyền cho các môn đệ đem đến cho mọi người trong thiên hạ đời bấy giờ. Đó là sự bình an mà Đức Giêsu truyền cho chúng ta mang đến cho mọi người trong thiên hạ hôm nay.
 
Ví dụ sau đây làm cho chúng ta hiểu được sứ điệp của Chúa hôm nay hơn chăng? Khi có cơn gió lớn miền nhiệt đới thổi trên Thái Bình Dương, người ta gọi là cơn tố (Typhon), nếu là thổi trên Đại Tây Dương, người ta gọi đó cơn Bão (hurricane).
 
Trong một cơn bão như vậy, thì có một trung tâm. Chính giữa trung tâm đó, có một nơi mà người Mỹ gọi là con mắt của cơn bão (eye of the hurricane). Trong khi ở chung quanh, cơn bão thổi lên ầm ầm, thì vùng trung tâm, tức là vùng con mắt, hoàn toàn yên lặng. Người đứng giữa trung tâm, ngước mắt lên, sẽ thấy trời quang mây tạnh, thấy mặt trời chói sáng, cảnh vật yên tĩnh như chẳng có việc gì xảy ra.
 
Con mắt hay là trung tâm của cơn bão là một hình ảnh Chúa muốn mặc cho mỗi thánh lễ, chẳng hạn thánh lễ Chúa nhựt hôm nay. Trong khi thế giới chung quanh chúng ta, biết bao những cơn bão tố xảy ra. Nào là cướp bóc, nào là nổi loạn, nào là chém giết lẫn nhau… thì trong thánh lễ giờ này, chúng ta được vui hưởng sự bình an của Đức Kitô, trong tình yêu thương của những người đồng đạo, đồng cảnh đồng thuyền…
 
Nhưng Chúa không muốn chúng ta ở lại giữa trung tâm của cơn bão tố. Sau khi thánhlễ hoàn tất, Chúa muốn cho chúng ta dấn thân vào trong giông tố, chia sẻ sự bình an của Chúa trong gia đình, trong cộng đoàn, trong toàn thế giới.
 
Chúng ta hãy thưa với Chúa như lời kinh Hòa bình rằng:
 
Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lặng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm…
 
“Vào nhà nào, các con hãy chúc bình an cho nhà đó.”
 
 
 

54. Tại trung tâm bão biển – Lm. Mark Link.
 
Chủ đề“Sứ vụ của chúng ta là đem bình an của Đức Kitô đến cho thế gian”
 
Trong năm 1980, một tờ báo phát hành trên toàn quốc có đăng một câu chuyện khác thường. Một người kia ra xe của ông đang đậu trước một trung tâm thương mại lớn. Ngay trên ghế ngồi, có một mẩu giấy viết:
 
“Thưa ông/bà;
 
Tôi đã định ăn cắp chiếc xe này cho đến khi tôi chợt nhìn thấy hàng chữ ‘Peace-Be-to-You’ (Bình An-Cho-Bạn) dán trên kính xe. Nó làm tôi do dự và suy nghĩ. Tôi nghĩ nếu tôi ăn cắp chiếc xe này, ông bà chắc chắn sẽ không có bình an, và ngược lại, tôi cũng không cảm thấy bình an, vì đây là ‘chuyến ăn hàng’ đầu tiên của tôi.Do đó, ‘bình an cho bạn’ và cho tôi. Nhớ lái xe cẩn thận và lần sau đừng quên khóa cửa.”
 
Ký tên: “Người Muốn Ăn Cắp Xe.”
 
Câu chuyện khác thường đó làm sáng tỏ mệnh lệnh khác thường của Chúa Giêsu mà Người đã ban cho các môn đệ trong bài phúc âm hôm nay: “Vào bất cứ nhà nào, trước hết các con hãy nói, ‘Bình an cho nhà này.’ Nếu một người yêu chuộng bình an sống ở đó, lời chúc bình an của các con sẽ ở với họ; nếu không, hãy lấy lại lời chúc bình an.”
 
Áp dụng điều này vào câu chuyện nói trên, chúng ta thấy câu “Bình An-Cho-Bạn” đã nới rộng sự bình an của Đức Kitô đến cho người muốn ăn cắp xe. Tên trộm này là người bình an trong tâm hồn, và bình an của Đức Kitô đã ngự trên hắn ta.
 
Điều đó nêu lên một câu hỏi: Chúng ta muốn nói gì về “bình an của Đức Kitô”? Bình an đó được cấu tạo bởi những gì? Khi Kinh Thánh dùng chữ bình an, nó có bốn ý nghĩa khác nhau.
 
Thứ nhất, nó được dùng trong ý nghĩa quân sự–để chỉ về sự thiếu vắng chiến tranh giữa các quốc gia. Do đó, chúng ta nói, “Các quốc gia đang sống bình yên.”
 
Thứ hai, nó được dùng ý nghĩa cá nhân–để chỉ về một cảm giác hạnh phúc của con người. Do đó, chúng ta nói, “Chúng tôi hòa thuận với nhau.”
 
Thứ ba, Kinh Thánh dùng chữ bình an trong ý nghĩa tôn giáo–để chỉ về một tương giao đúng đắn giữa Thiên Chúa và con người. Do đó, chúng ta nói, “Chúng ta hài hòa với Thiên Chúa.”
 
Sau cùng, Kinh Thánh dùng chữ bình an để chỉ một tình trạng mà trong đó mọi người trên mặt đất hài hòa với Thiên Chúa, tha nhân, và với chính mình. Đây là điều chúng ta muốn nói qua chữ “bình an của Đức Kitô”.
 
Đây cũng là điều Đức Giêsu muốn nói khi Người tuyên bố, “Thầy để lại bình an cho các con; chính bình an của Thầy mà Thầy ban cho các con” (Gioan 14:27). Vị linh mục nhắc lại lời này khi cử hành Thánh Lễ. Sự bình an này thì không gì khác hơn là Nước Thiên Chúa được trị đến trên mặt đất-là vương quốc mà chúng ta thường cầu xin trong kinh Lạy Cha khi chúng ta đọc, “Xin cho Nước Cha trị đến…”
 
Chính sự bình an này mà Đức Giêsu đã truyền cho các môn đệ hãy đem vào thế gian trong thời ấy. Chính sự bình an này mà Đức Giêsu truyền cho chúng ta đem vào thế gian trong thời đại chúng ta.
 
Chúng ta sẽ là các khí cụ mà sự bình an của Đức Kitô sẽ được trải rộng đến mọi người trong mọi quốc gia trên thế giới.
 
Một loại suy sau đây có thể giúp chúng ta biết ý Chúa muốn chúng ta thi hành điều này như thế nào.
 
Khi gió của cơn bão nhiệt đới lên quá 75 dặm một giờ, người ta gọi nó là “typhoon” (bão lớn) khi xảy ra ở Thái Bình Dương, và gọi là “hurricane” (cuồng phong) khi xảy ra ở Đại Tây Dương. Để có một ý niệm thế nào là trận cuồng phong, hãy tưởng tượng ra đĩa “frisbee” với một lỗ hổng ở giữa. Bây giờ, thử tưởng tượng đĩa ấy lớn dần cho tới khi nó rộng đến 100 dặm và lỗ hổng ở giữa rộng đến 10 dặm. Và rồi hãy tưởng tượng cái đĩa khổng lồ ấy xoay tròn với tốc độ 100 dặm một giờ. Đó là cơn cuồng phong hay cơn bão. Phần đáng chú ý của cơn bão là tâm điểm của nó-cái lỗ hổng ở giữa đĩa “frisbee”.Mặc dù gió lốc đang gào thét chung quanh tâm bão với tốc độ 100 dặm một giờ,nhưng ở tâm bão thì lại êm ả. Không có một chút gió lốc.Nếu bạn đứng trong tâm bão và nhìn lên, bạn sẽ thấy bầu trời xanh và ánh nắng chói chang.
 
Tâm bão là một hình ảnh tốt để nói lên điều Đức Giêsu nhắn nhủ chúng ta trong Tiệc Thánh Thể, khi chúng ta quy tụ để chia sẻ bữa tiệc ấy vào mỗi Chúa Nhật.
 
Có biết bao cơn bão chung quanh chúng ta ở trong thế giới này. Con người gào thét và lấy của nhau; các nhóm dấy loạn và cướp bóc; quốc gia này đánh nhau với quốc gia khác. Tuy nhiên, ở bàn Tiệc Thánh Thể thì lại êm ả. Chúng ta nhìn lên và thấy bầu trời xanh cùng ánh nắng chói chang. Chúng ta đang ở tâm bão. Chúng ta vui hưởng “bình an của Đức Kitô.” Đức Giêsu ban cho chúng ta sự bình an này không phải để chúng ta ở mãi trong đó, nhưng để bồi dưỡng trong giây lát. Cũng như tâm bão chỉ kéo dài chừng một giờ đồng hồ khi bão đi qua, bữa Tiệc Thánh Thể cũng chỉ khoảng một giờ. Đức Giêsu không bao giờ muốn chúng ta ở mãi trong tâm bão. Người muốn chúng ta đi vào cơn bão. Đức Giêsu muốn từ bàn Tiệc Thánh Thể, chúng ta tiến bước để trở nên tâm bão giữa các trận cuồng phong của thế gian. Người muốn chúng ta chia sẻ sự bình an của Người, mà chúng ta được cảm nghiệm trong Thánh Lễ, với toàn thế giới.Người muốn chúng ta trở thành các khí cụ mà qua đó sự bình an của Đức Kitô được trải rộng trên toàn thế giới. Và vì thế Kinh Thánh nói về bốn loại bình an: sự bình yên giữa các quốc gia, sự hòa thuận giữa chúng ta, sự hài hòa với Thiên Chúa, và bình an của Đức Kitô-đó là một tình trạng mà mọi người trên thế giới hài hòa với Thiên Chúa, tha nhân và chính mình. Sự bình an sau cùng này, bình an của Đức Kitô, thì không gì khác hơn là sự trị đến của Vương Quốc Thiên Chúa. Chính sự bình an này mà Đức Giêsu đã thể hiện khi làm người. Chính sự bình an này mà Đức Giêsu đã truyền cho các môn đệ phải đem vào thế gian trong thời đại của họ. Chính sự bình an này mà Đức Giêsu truyền chúng ta phải đem vào thế gian trong thời đại chúng ta.
 
Chính sự bình an này mà chúng ta cầu xin Chúa Giêsu tuôn đổ trên chúng ta vào sáng hôm nay:
 
“Lạy Chúa, xin giúp con trở nên khí cụ bình an của Chúa, Để nơi thù hận, con đem đến tình yêu; nơi xúc phạm, con đem đến tinh thần tha thứ; nơi nghi kỵ, con đem đến niềm tin; nơi bất hoà, con đem đến sự hoà hợp; nơi thất vọng, con đem đến hy vọng; nơi bóng tối, con đem đến sự sáng; nơi buồn sầu, con đem đến niềm vui.
 
Lạy Chúa, xin hãy dạy con tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết; tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.
 
Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ; chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân; chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.” (Thánh Phanxicô Assisi)
 
 
 

55. Sai đi loan báo Tin Mừng
 
  1. Cách đây ít lâu, có một cô giáo, sống xa nhà thờ hàng chục cây số, đến gặp tôi, cô nói rằng: “Thưa cha, có một số con em của gia đình Công giáo gần chỗ con ở, đến tuổi học giáo lý rước lễ, thêm sức rồi mà không có điều kiện đến nhà thờ để học giáo lý dịp hè nầy. Con có thể tìm cách giúp cho các em nầy được hay không ?”. Tôi biết cô nầy có khả năng dạy giáo lý, nên tôi nói với cô rằng, việc đó quá tốt, tôi hoàn toàn ủng hộ cô.
  2.  
Có rất nhiều Kitô hữu tuy không sống trong bậc tu trì nhưng rất tích cực trong việc loan báo Tin Mừng, những người nầy cách nào đó đã hiểu được lời dạy về việc truyền giáo của Đức Kitô. Như trong đoạn Tin Mừng được chọn đọc Chúa Nhật hôm nay, Đức Giêsu không những chọn và sai nhóm Mười Hai mà còn chọn và sai 72 môn đệ làm việc tông đồ nữa. Điều này cho thấy Chúa muốn mọi tín hữu đều phải tham gia vào việc tông đồ. Bởi con số 72 ở đây không những tượng trưng cho số nhiều mà còn mang tính toàn thể, số 72 đây là số các dân tộc của loài người mà sách Sáng thế chương 10 đã đề cập đến.
 
  1. Lời mời gọi truyền giáo của Đức Giêsu vẫn như đang gởi đến với mỗi chúng ta: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít”. Thật vậy, sau 2.000 năm Tin Mừng được rao truyền, ta thấy khắp nơi có bóng thánh giá, đó là điều đáng mừng. Thế nhưng chúng ta nghĩ gì khi số người tin vào Chúa mới khoảng 2 tỉ, trong khi đó khoảng hai phần ba nhân loại còn lại chưa biết Chúa!? Còn tại Việt Nam chúng ta, số người tin vào Chúa chỉ khoảng mười phần trăm! Có nơi cả huyện chỉ có một ngôi nhà thờ Công giáo, dĩ nhiên do nhiều nguyên nhân! Nhưng dầu sao cũng làm cho chúng ta suy nghĩ cánh đồng lúa mênh mông còn bị bỏ hoang không thợ chăm sóc, gặt hái. Thế giới này dường như vẫn còn dày đặc của bóng tối, sự dữ… rất cần ánh sáng của Tin Mừng soi dọi. Cho nên, không lạ gì Chúa Giêsu đã nói: “Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói”.
  2.  
  3. Đức Giêsu đã ra đi loan báo Tin Mừng Nước Trời, người cũng sai các môn đệ phải ra đi. Thánh Phaolô đã từng thốt lên rằng: Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm, khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng (x.1Cr 9,16)! Công đồng Vaticanô II cũng đã khẳng định:”Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo” (Ad Gentes 2). Cuộc sống con người đa dạng, phong phú thì việc truyền giáo cũng có thể thực hiện bằng nhiều phương cách, chẳng hạn như:
  4.  
– Có thể đó bằng phương cách dấn thân trong ơn gọi linh mục, tu sĩ mà trong những tháng hè nầy như là mùa thu hoạch ơn gọi qua những lễ khấn dòng, truyền chức mà chúng ta tham dự.
 
– Có thể đó là cộng tác với các linh mục, tu sĩ. Bởi có những họ đạo có đến hàng trăm em học sinh giáo lý, nếu không có các giáo lý viên cộng tác, thì làm sao các linh mục có thể giúp cho các em học tốt được! Có thể cộng tác bằng việc giúp đỡ tài chính cho việc truyền giáo nữa.
 
– Có thể đó là việc hy sinh của các giáo lý viên đến tận gia đình những người muốn học để chia sẻ niềm tin, do họ rất xa nhà thờ nhưng không có điều kiện đến để học giáo lý.
 
– Có thể là chia sẻ, dạy về Chúa cho những người gần gũi, con em ngay trong gia đình mình. Bởi không phải nơi nào giáo dân muốn tụ họp lại để học giáo lý, đọc kinh thì có thể thực hiện được cách dễ dàng. Thật vậy, có những nơi muốn phục hồi lại nơi thờ tự bị chiến tranh tàn phá thì không đơn giản gì và rất nhiều nơi lẽ ra phải có nhà thờ thì không dễ gì thực hiện được! Tôi được biết có gia đình ở cách nhà thờ gần nhất là trên 20 cây số. Nơi linh mục tới lui không phải thuận lợi, nhưng các thành viên trong gia đình nầy vẫn giữ vững đức tin, qua hàng chục năm như thế, do đâu ? Thưa do người cha của gia đình nầy hằng ngày cùng với con mình đọc kinh hôm, kinh mai, kể những câu chuyện về Đức Giêsu cho con cháu mình nghe.
 
  1. Một phương thức rao giảng Tin Mừng rất hữu hiệu đó là dấn thân phục vụ xã hội theo tinh thần công bình, bác ái của Đức Kitô. Đây là phương cách mà Kitô hữu nào cũng có thể thực hiện được nơi môi trường mình sống, mình làm việc. Xã hội xem ra đang phát triển, nhưng nhìn kỹ lại đang tụt dốc về nhiều phương diện, nhất là về đạo đức, một thực tế không ai chối cãi được. Cho nên hơn bao giờ hết Tin Mừng của Chúa cần phải được rao giảng, nhất là bằng đời sống chứng nhân. Người ta thường nói: “lời nói lung lay, việc lành lôi kéo”.
  2.  
Trước những điều xấu trong xã hội, chúng ta thường làm thinh bỏ qua hay phàn nàn, trách móc. Hãy chọn phương cách tích cực hơn, như một danh nhân đã nói:”Thà đốt lên một ngọn nến tuy nhỏ, nhưng hơn là ngồi đó mà nguyền rủa bóng đêm”. Thật vậy, trước cảnh gian lận trong cuộc sống, một đời sống ngay lành của người Kitô hữu quả là một ngọn nến. Trước cuộc sống buông thả của các thanh niên nam nữ, một đời sống trong sạch của các Kitô hữu không là một ngọn nến sao? Trước lời thô lỗ, tục tằn của các bạn trẻ, một lời nói thanh tao của ta quả là một ngọn nến… Như các ngọn hải đăng không ồn ào mà chúng chỉ lặng lẽ chiếu sáng, nhưng ánh sáng của nó thật hữu ích. Đời sống tốt đẹp của người Kitô hữu cũng thế.
 
  1. Như người thợ làm việc tích cực, đúng cách, bao giờ cũng mang lại hiệu quả tốt đẹp; cũng vậy, chắc chắn những hy sinh, cố gắng của chúng ta trong việc truyền giáo theo ý Chúa cũng sẽ mang lại hiệu quả. Điều nầy làm chúng ta vui mừng, nhưng đáng vui mừng hơn đó là tên của chúng ta được ghi trên trời (x. Lc 10,20), hay nói cách khác, phần thưởng cách xứng hợp mà Thiên Chúa sẽ tặng ban cho những ai tích cực làm tông đồ Ngài.
  2.  
 
 

56. Dấn thân – Trầm Thiên Thu
 
Dấn thân là dám hy sinh, tức là dám chịu thiệt thòi, dám bất chấp nguy hiểm, sẵn sàng quên mình vì một lý tưởng nào đó, nhưng vì ích lợi của tha nhân chứ không vì tư lợi hoặc tư danh: Dấn thân phục vụ người nghèo, bảo vệ tổ quốc. Đó là dấn thân theo nghĩa tốt. Dấn thân cũng có nghĩa xấu: Dấn thân vào con đường tội lỗi. Chữ DÁM trong Việt ngữ thật “hay”!
 
Có nhiều con đường dấn thân, với cách thức và mức độ khác nhau. Tri thức nhằm phục vụ xã hội cũng là một cách dấn thân. Nhưng với các Kitô hữu, có một con đường dấn thân đặc biệt, một trong ba thiên chức (vương đế, tư tế, ngôn sứ) được Thiên Chúa trao ban từ khi lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, đồng thời cũng là trách nhiệm thực hiện lệnh truyền phổ quát của Đức Kitô: “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15).
 
Được sai đi mà không chịu dấn thân thì cũng vô ích. Ngoài ba lời khấn truyền thống (thanh tuân, thanh khiết, thanh bần), các tu sĩ Dòng Tên (SJ, Society of Jesus) cón có lời khấn thứ tư: “Đến bất cứ nơi nào được sai đi”. Vậy mới là dấn thân, chứ nhận “bài sai” mà bảo là “sai” nên không chịu đi hoặc kỳ kèo, so đo, đòi hỏi, thì còn gì là dấn thân, là vâng lời? Dấn thân ở dạng nào cũng khó nhọc, vất vả, dù tích cực hay tiêu cực, và thậm chí còn nguy hiểm, thế nên rất cần lòng can đảm và nỗ lực: “Con ơi, nếu con muốn dấn thân phụng sự Đức Chúa, thì con hãy chuẩn bị tâm hồn để đón chịu thử thách” (Hc 2:1).
 
Ngôn sứ Isaia kêu gọi: “Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì Thành Đô mà hoan hỷ, hỡi tất cả những người yêu mến Thành Đô! Hãy cùng Giêrusalem khấp khởi mừng, hỡi tất cả những người đã than khóc Thành Đô, để được Thành Đô cho hưởng trọn nguồn an ủi, được thoả thích nếm mùi sung mãn vinh quang, như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ” (Is 66:10-11). Tại sao? Vì Đức Chúa phán: “Này Ta tuôn đổ xuống Thành Đô ơn thái bình tựa dòng sông cả, và Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ. Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy; tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi vỗ về” (Is 66:112-13).
 
Thành Đô Giêrusalem là hình bóng Thiên Chúa. Ngôn sứ Isaia “bật mí” cho chúng ta biết: “Nhìn thấy thế, lòng các bạn sẽ đầy hoan lạc, thân mình được tươi tốt như cỏ đồng xanh. Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết, và nổi cơn thịnh nộ với các kẻ thù” (Is 66:14).
 
Thiên Chúa là đấng cao cả, chúng ta chỉ là bụi cát, hoàn toàn bất xứng, nhưng Ngài vẫn bảo vệ chúng ta như con người trong mắt Ngài (x. Đnl 32:10). Vì thế, chúng ta càng phải nghe lời kêu gọi của tác giả Thánh Vịnh: “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời, nào dâng lời ca tụng tôn vinh! Hãy thưa cùng Thiên Chúa: Khủng khiếp thay, sự nghiệp của Ngài! Trước thần lực uy hùng, địch thù khúm núm” (Tv 66:1-3).
 
Không trừ loài thọ tạo nào, mà “toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ, và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh” (Tv 66:4). Cứ nhìn xem công trình của Thiên Chúa là thiên nhiên thì không ai có thể bác bỏ ơn Ngài: “Hành động của Người đối với phàm nhân thật đáng kinh đáng sợ! Chúa làm cho biển khơi hoá đất liền, và dân Người đi bộ qua sông; việc Người làm đó khiến ta hoan hỷ” (Tv 66:5-6).
 
Và chúng ta chỉ còn biết cúi đầu cảm tạ, tin kính, thờ lạy, yêu mến, tôn vinh và chúc tụng: “Xin chúc tụng Thiên Chúa đã chẳng bác lời thỉnh nguyện con dâng, lại cũng không dứt nghĩa đoạn tình” (Tv 66:20). Đó chính là hồng ân bao la, là tình yêu vô biên và là lòng thương xót hải hà của Thiên Chúa! Quả đúng như lời Thầy Giêsu đã xác định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5). Nhận biết được như vậy thì người ta mới khả dĩ vui vẻ dấn thân vì công ích một cách vô điều kiện. Nói theo Giáo huấn Xã hội Công giáo, cuộc sống luôn có tính bổ trợ và liên đới.
 
Biết người, biết ta, trăm trận trăm thắng. Cổ nhân truyền lại kinh nghiệm như vậy. Thánh Phaolô đã biết mình yếu đuối và khốn nạn, nên ngài đã đủ sức vượt qua chính mình và mọi trở lực, để rồi lại có mơ ước “ngược đời” hết sức: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” (Gl 6:14).
 
Thánh nhân giải thích: “Cắt bì hay không cắt bì chẳng là gì cả, điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới” (Gl 6:15). Cắt bì là một dạng luật Cựu ước. Tân ước không còn. Tất nhiên ngày nay lại càng cảm thấy xa lạ hơn. Nhưng cách nói rất rõ ràng, rất thẳng thắn. “Hay” là chỗ đó. Chính điều đó là điều chúng ta phải hết sức lưu ý khi chấp nhận vì Chúa mà dấn thân (hoặc cứ cho là thế). Dấn thân được thể hiện đa dạng: Sống đức ái Kitô giáo, tham gia các hội đoàn, làm việc tông đồ, làm từ thiện,… Nhưng không khéo thì chúng ta dễ so đo theo cách trần tục, tức là chúng ta là “chính”, còn Chúa là “phụ”, và Chúa trở thành bức bình phong “che chắn” chúng ta mà thôi. Thật nguy hiểm!
 
Cuối cùng, Thánh Phaolô chúc mọi người được hưởng bình an và lòng thương xót của Chúa, rồi đề nghị: “Xin đừng có ai gây phiền toái cho tôi nữa, vì tôi mang trên mình tôi những dấu tích của Đức Giêsu” (Gl 6:17).
 
Ngoài Nhóm Mười Hai, Chúa Giêsu còn chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Ngài sẽ đến. Rồi Ngài “dài hơi” căn dặn các ông: “Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: ‘Bình an cho nhà này!’. Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em” (Lc 10:2-8).
 
Được sai đi, nhưng người-được-sai đi PHẢI biết dấn thân, nếu không thì “hư bột, hư đường hết trơn”. Dấn thân khó thật, vì dấn thân là khổ thật chứ không nói suông: Như chiên con vào giữa bầy sói, không mang tiền bạc, không mang hành lý. Căng quá! Có lẽ vì “căng” vậy nên một số người áp dụng “phương pháp” này: “Cờ đến tay ai thì người đó phất”. Thay vì chúng ta “run rẩy” trong tay Chúa thì chính Chúa lại chịu “run rẩy” trong tay chúng ta! Run rẩy vì “lạnh”, vì “sợ”, vì… nhiều cái VÌ, BỞI, TẠI, NHƯNG, NẾU, GIÁ,…
 
Cuộc sống (đạo và đời) có nhiều hệ lụy. Một trong các “mối” đó liên quan chuyện vật chất, chính xác là tiền bạc, Thánh Phaolô xác định: “Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé” (1 Tm 6:10).
 
Trong buổi lễ thuộc khuôn khổ năm Đức Tin để tất cả các giám mục (gần 300 giám mục uy tín của 221 giáo phận) long trọng tuyên xưng đức tin tại lễ bế mạc Hội đồng Giám mục Ý khóa 65 (năm 2013), ĐGH Phanxicô đã thẳng thắn tấn công trực tiếp vào sự lười biếng, tinh thần nghề nghiệp (quan liêu), thói ưa thích tiền bạc và ngạo mạn của các giám mục Ý. ĐGH Phanxicô đã dành cho họ một bài diễn văn “nảy lửa” theo dạng “bom tấn” (bombard).
 
ĐGH Phanxicô không hề rào trước đón sau, mà yêu cầu các giám mục hãy trả lời thẳng thắn câu hỏi mà Chúa Kitô đã đặt ra với Phêrô: “Con có yêu thầy không?”. Ngài cho đó là câu hỏi độc nhất thực sự thiết yếu. Mọi chủ chăn phải tự đặt cho mình câu hỏi đó, bởi vì mọi mục vụ đều xây trên nền tảng “thân mật với Chúa, sống với Chúa là thước đo sự phục vụ Giáo hội của chúng ta, nó diễn tả lòng sẵn sàng để vâng phục, để hạ mình và để tận hiến”.
 
Rồi ngài nhìn thẳng vào các giám mục và công tố nặng nề chưa từng có tại Đền Thờ Thánh Phêrô, đặc biệt ngài đề cập việc tự kiểm điểm Giáo hội: “Chúng ta không phải là thể hiện của một cơ cấu hay một sự cần thiết được tổ chức, nhưng là dấu chỉ sự hiện diện hành động của Chúa Phục Sinh. Vì thế, phải có Sự TỈNH TÁO THIÊNG LIÊNG, thiếu nó thì chủ chăn, trước hết là giám mục, sẽ nguội lạnh, vô tâm, quên lãng và trở thành vô cảm, bị lôi cuốn theo viễn tượng chức quyền, tiền bạc và thỏa hiệp vói tinh thần thế tục. Những cái đó làm họ trở nên lười biếng, thành một dạng công chức, một nha lại của nhà nước chỉ biết lo cho bản thân, cho tổ chức và các cơ cấu, thay vì lo cho lợi ích đích thực của dân Chúa. Làm thế họ dễ bị rơi vào tình trạng nguy hiểm như Tông đồ Phêrô đã chối Chúa, mặc dù trên hình thức họ tự xưng và rao giảng nhân danh Thiên Chúa, nhưng họ đã làm tổn thương đến sự Thánh thiện của Mẹ Giáo hội bằng cách làm cho Giáo hội ít sinh hoa kết quả. Câu hỏi dai dẳng của Chúa có thể đem lại nỗi cay đắng, cụt hứng và có khi mất cả lòng tin. Nhưng đó không phải là những tâm tình mà câu hỏi của Chúa muốn gợi lên, trái lại, những tâm tình đó làm lợi cho kẻ thù, khiến qủy dữ phải co rúm lại trong sự chua cay, rên xiết và tuyệt vọng. Chúa Giêsu không nhục mạ ai, mà Người giúp lấy lại can đảm”.
 
ĐGH Phanxicô nói thêm: “Như thế chúng ta sẽ tìm thấy niềm vui của một Giáo hội phục vụ, khiêm tốn và trong tình huynh đệ”. Và đó là điều mà chắc hẳn ai cũng đều mong ước và khao khát đêm ngày. Lạy Chúa tôi, thấy người mà chạnh nghĩ đến Việt Nam ta. Ai dám nói ra thì bị ghét!
 
Ngày xưa, Chúa Giêsu sai Nhóm Bảy Mươi Hai ra đi, dấn thân và chữa lành những người đau yếu trong thành, và nói với họ về Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần (Lc 10:9). Ngài căn dặn rõ ràng: “Khi vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại quý vị. Tuy nhiên quý vị phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần” (Lc 10:10-11). Chúa Giêsu nói điều rất quan trọng: “Trong ngày ấy, thành Sôđôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó” (Lc 10:12).
 
Nhóm Bảy Mươi Hai trở về và hớn hở nói: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con” (Lc 10:17). Đức Giêsu ôn tồn: “Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em” (Lc 10:18-19). Đó là lời cảnh báo. Và Ngài còn cảnh báo về tính kiêu ngạo: “Anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10:20).
 
Thật đáng rùng mình khi nghe lời Thánh Phaolô nhắc nhở: “Không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ” (Dt 4:13). Vì thế mà phải luôn tỉnh thức với lời cảnh báo của Giáo hoàng Phêrô: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5:8).
 
Lạy Thiên Chúa, xin cho chúng con biết dấn thân vì Danh Ngài, xin biến đổi Giáo hội trở thành một Giáo hội cầu nguyện và sám hối, được giải thoát khỏi sự thờ ngẫu tượng của hiện tại, có những chủ chăn thoát vòng kiềm tỏa của sự ù lì, lười biếng, nhỏ nhen, đê tiện, chủ bại, buồn thảm, mất kiên nhẫn, xơ cứng, nhưng biết hội nhập và tràn đầy lòng xót thương của Chúa. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
 
 
 

57. Hành trang tông đồ – Lm Giuse Nguyễn Hữu An
 
Chúa Giêsu lập Nhóm Mười Hai. Ngài cho các ông sống bên cạnh mình. Ngài trực tiếp huấn luyện bằng cách cho các ông được nghe những lời Ngài giảng, được xem những việc Ngài làm. Sau đó, Ngài sai các Tông đồ ra đi thực tập truyền giáo. Chúa Giêsu còn chọn thêm nhiều môn đệ nữa. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy 72 môn đệ được sai phái thêm sau chuyến sai đi Nhóm Mười Hai (Lc 9,1-6) vì “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” (Lc 10,2). Thánh Luca muốn nhấn mạnh rằng, không riêng gì các Tông đồ, mà tất cả mọi người đều được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng. Hai động từ “gọi, sai đi” diễn tả rõ rệt ơn gọi của các môn đệ. Trước khi các học trò lên đường, Chúa Giêsu căn dặn nhiều điều như là hành trang cần thiết cho sứ vụ tông đồ. M. Quesnel ví những lời đó như “một loại thủ bản, một cẩm nang cho một nhà truyền giáo hoàn hảo”1.
 
  1. Hành trang Tông đồ
  2.  
Hành trang đi đường chỉ là: cây gậy, đôi dép, không mang hai áo. Ý nghĩa ở đây là những kẻ được sai đi phải là những con người thanh thoát, không cồng kềnh nặng nề với của cải vật chất để có thể luôn sẵn sàng lên đường ra đi cho sứ vụ.
 
Chuyến đi nào cũng cần đến những hành trang. Hành trang cồng kềnh bước đi sẽ chậm. Hành trang gọn nhẹ bước tới sẽ nhanh. Hàng trang càng được tinh giản chỉ còn lại những gì thiết yếu nhất thì bước chân cũng sẽ thanh thoát khai lối cho mùa sứ vụ.
 
Hành trang của những kẻ lên đường xem ra chẳng có gì. “Gậy và dép” như gợi lại buổi Xuất hành. Nhẹ nhàng quá! Bận vướng với của cải đất đai sản nghiệp đùm đề làm sao có đủ tự do để bứt ra mà dứt khoát lên đường?
 
Hành trang của những kẻ lên đường xem ra chẳng có gì. “Không bánh, không bị, không tiền, không hai áo”. Nghèo khó quá! Chả bù cho con người ngày nay luôn biết tích lũy lo xa, có của ăn chưa đủ, còn có của để dành nữa. Nhưng cái nghèo về tài sản lại cho thấy cái giàu về đức hạnh. Không lo chiếm hữu hoặc gắn bó với của cải vật chất, người Tông đồ trở nên thanh thản lên đường bất cứ lúc nào. Không bận vướng những thứ lỉnh kỉnh làm nặng bước đi hoặc làm chùn bước tới, người Tông đồ học sống tinh thần phó thác để chỉ biết đợi chờ tất cả nơi một mình Thiên Chúa.
 
Xem ra chẳng có gì. Mà thực ra lại có tất cả. Bởi hành trang đích thực của họ chính là Chúa, Đấng đã nên sản nghiệp cho những kẻ được sai đi 2.
 
Hành trang ấy còn có ý nghĩa đặc biệt nữa. Đó là các môn đệ được tham dự vào ba chức năng tư tế, tiên tri và vương đế của Chúa Giêsu. Cây gậy của vương đế, đôi dép của tiên tri, và tấm áo của tư tế.
 
– Cây gậy
 
Cây gậy trong tay biểu trưng cho sức mạnh của Thiên Chúa thông ban cho người thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng. Ra đi với niềm tin vào năng quyền của Thiên Chúa trao ban: công bố Tin mừng cứu độ của Đức Kitô, chữa lành và thánh hoá nhằm cải thiện đời sống, xua trừ ma quỷ hầu chế ngự và đẩy lui các thế lực sự dữ.
 
– Đôi dép
 
Đôi dép là hình ảnh luôn lên đường. Truyền giáo là ra đi. Đi để mang sứ điệp Tin mừng đến với muôn dân. Sứ vụ sai đi khởi phát từ Chúa Cha “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”.
 
– Tấm áo
 
Người ra đi mang áo là mặc lấy tâm tình Chúa Giêsu. Nhờ đó, các môn đệ làm cho cuộc đời mình trở nên của lễ hiến dâng hợp với hiến lễ Chúa Kitô.
 
Chúa Giêsu còn trao cho các môn đệ những quyền năng của Ngài: quyền rao giảng, quyền chữa bệnh, quyền trừ quỷ.
 
Với những hành trang như thế, Chúa Giêsu muốn tỏ cho thấy sự thành công trong hoạt động Tông đồ không do tài lực của con người nhưng là do quyền năng Thiên Chúa.
 
  1. Phương thức hoạt động Tông đồ.
  2.  
Sứ vụ loan báo Tin mừng không phải là việc của một cá nhân riêng lẻ, mà là việc của cộng đoàn, không phải là độc quyền của riêng ai, nhưng phải liên đới và liên kết với nhiều người khác. Khi sai đi “từng hai người một”, Chúa Giêsu mong các môn đệ hợp tác và liên đới với nhau, khích lệ và bàn hỏi nhau khi gặp khó khăn “Hai người có giá trị hơn một, nếu họ ngã, người này đỡ người kia dậy” (Gv 4,9). Hai người làm việc chung, nâng đỡ nhau biểu lộ tình yêu thương nhau như một dấu chỉ đặc trưng của môn đệ của Chúa (x. Ga 13,35). Dấu chỉ này là một chứng từ sống động và lôi cuốn người khác.
 
Trong Công vụ Tông đồ, các nhà truyền giáo thường lên đường với nhau “từng hai người một”: Phêrô đi với Gioan (Cv 3,1; 4,13); Phaolô với Banabê (Cv 1 3,2); Giuđa và Sila (Cv 15,22)… Hoạt động Tông đồ luôn là tạo thành nhóm. Nếp sống huynh đệ là một bài giảng về tình yêu. Chứng tá về tính hiệp nhất khi gắn bó với Đấng đã sai mình, chứng tá về tình huynh đệ khi nhận ra mình được sai đi “từng hai người một”. Chứng tá Kitô hữu phải nhắm đến một hình thức cộng đoàn trong Giáo Hội. Cuộc sống yêu thương trong cộng đoàn vừa là dấu hiệu của người môn đệ Chúa Giêsu, vừa là lời rao giảng sống động, hùng hồn nhất về Tin Mừng.
 
Chúa Giêsu gọi các môn đệ và sai đi truyền giáo. Giáo hội tiếp nối sứ vụ được sai đi, đến với muôn dân. Ra đi là dấn thân đi đến gặp gỡ mọi người với tinh thần đơn sơ, từ bỏ và tự do, để loan báo tin vui và mang đến cho họ ơn cứu độ.
 
Như thế, Tông đồ là người lên đường chứ không phải xuống đường. Lên đường là một tinh thần nhạy cảm của Tin Mừng được thể hiện qua lối sống gắn bó với sứ vụ. Nhạy cảm với những thao thức của thời đại để tìm đổi mới tư duy, nâng cao tầm nhìn, nới rộng kiến thức, mong diễn đạt Tin Mừng sát với ngôn ngữ hiện tại. Nhạy cảm với nhu cầu của tha nhân bằng muôn ngàn cách thể hiện lòng nhân ái vốn là điểm sáng của giới luật yêu thương, đồng thời là dấu hiệu dễ nhận ra nhất của Tin Mừng cứu độ. Nhạy cảm với Giáo Hội để tìm hiệp nhất. Nhạy cảm với đồng nghiệp để tìm huynh đệ nâng đỡ cộng tác. Nhất là, nhạy cảm với Chúa để tìm thuộc về Ngài mỗi ngày một hơn. Và dọc dài sứ vụ, tư thế lên đường sẽ làm nên hình ảnh chứng nhân 3.
 
  1. Sứ vụ Tông đồ là sống chứng nhân
  2.  
Trao “Sứ vụ” cho các môn đệ, Chúa Giêsu không bảo các ông “phải giảng điều gì”. Ngài chỉ căn dặn các ông những chi tiết “phải sống”. Đối với Chúa Giêsu, ra đi làm chứng tá bằng cuộc sống quan trọng hơn chứng tá bằng lời nói.
 
Trong Tông huấn “Loan báo Tin Mừng”, Đức Thánh Cha Phaolô VI quả quyết ít nhất hai lần rằng, phương thức thứ nhất để rao truyền Phúc Âm chính là làm chứng bằng một cuộc sống Kitô hữu đích thực (x. số 21 và 41).
 
Có ba cách làm chứng: nói, làm và sống. Hiệu năng nhất là cách thứ hai và thứ ba. Ai cũng biết nói thì dễ, làm khó hơn, và sống như mình nói lại càng khó hơn nữa. Chính việc làm và đời sống làm cho lời mình nói đáng tin hơn. Nhưng cả khi người ta chưa nói hay không thể nói, chưa làm hay không thể làm một số điều nào đó, thì người ta đã có thể sống điều mình xác tin và muốn chia sẽ.
 
Theo Đức Phaolô VI, làm chứng bằng cuộc sống, bằng hành động cụ thể là một cách rao giảng thầm lặng, không nghe được, nhưng thấy được và rất hữu hiệu, nhất là đối với con người thời nay vì hai lý do: một là vì thời nay (thời của khoa học thực nghiệm và của óc thực tiễn), người ta nhạy cảm với việc làm và dị ứng với lời nói và các học thuyết, hai là vì trong thế giới trần tục hoá ngày nay, như ở Việt Nam chẳng hạn, tôn giáo bị đẩy ra bên lề như chuyện riêng tư, thế nên không phải bất kỳ ở đâu và lúc nào người ta cũng có thể, hay nên trực tiếp rao giảng Tin Mừng. Năm 1937, Mahatma Gandhi, vị anh hùng dân tộc Ấn Độ nói với các nhà truyền giáo: “Hãy để cho đời sống các ngài nói với chúng tôi như đoá hoa hồng không cần ngôn ngữ, mà chỉ đơn sơ để cho hương thơm của mình toả lan. Cả người mù không nhìn thấy hoa hồng vẫn nhận ra được mùi thơm của nó. Hãy để chúng tôi nghĩ tới sự cao cả của nhân dân của các ngài khi họ toả hương thơm đời sống. Đối với tôi, đó là tiêu chuẩn duy nhất. Tất cả những gì tôi muốn họ làm là sống đời Kitô hữu chứ không phải chú giải nó”.
 
Vậy để loan báo Tin Mừng thuyết phục, người Kitô hữu phải sống thế nào cho cuộc đời mình trở thành đáng tin. Đới sống đáng tin thì tự nhiên lời nói cũng đáng tin. Làm tông đồ, rao giảng Phúc Âm đặc biệt thích hợp cho ngày nay là làm cho đời sống Kitô hữu đáng tin. Như vậy toàn bộ cuộc sống ta đều phải “làm chứng”: lời ăn tiếng nói, cách cư xử, giao tiếp, trong gia đình, ngoài xã hội, khi làm việc, khi vui chơi giải trí… Đối với người có ý thức truyền giáo thì nhất nhất việc gì, khía cạnh nào của đời sống họ cũng có thể là lời loan báo. Lời trách nặng nề nhất của người chưa biết Chúa đối với tín hữu Công giáo có lẽ là: Người Công giáo các anh (các chị) không mấy đáng tin; các anh (các chị) nói một đường làm một nẻo. Đức tin, giáo lý nghe thì thật hay nhưng không thấy đem lại cho xã hội một cái gì thật sự tốt đẹp và mới mẻ. Lời phê bình đó có lẽ là quá đáng nhưng thiết tưởng ta chẳng cần cãi lý làm gì, hãy coi đó như một lời nhắc nhở để chúng ta nhìn lại cuộc sống “chứng tá” của mình. Xã hội này đang suy thoái trầm trọng về đạo đức: tham nhũng, thối nát, dối trá, bất công, xì ke ma túy, sa đoạ… Ta có còn là men, là muối, là ánh sáng nữa không? 4.
 
Cầu nguyện
 
Lạy Chúa Giêsu,xin sai chúng con lên đường nhẹ nhàng và thanh thoát,không chút cậy dựa vào khả năng bản thân hay vào những phương tiện trần thế. Xin cho chúng con làm được những gì Chúa đã làm: rao giảng Tin Mừng, trừ quỷ,chữa lành những người ốm đau. Xin cho chúng con biết nói Tin Mừng với niềm vui,như người tìm được viên ngọc…. quý,biết nói về Ngài như nói về một người bạn thân. Xin ban cho chúng con khả năng đẩy lui bóng tối của sự dữ, bất công và sa đọa. Xin giúp chúng con lau khô những giọt lệ của bao người đau khổ thể xác tinh thần.
 
Lạy Chúa Giêsu, thế giới thật bao la mà vòng tay chúng con quá nhỏ. Xin dạy chúng con biết nắm lấy tay nhau mà tin tưởng lên đường, nhẹ nhàng và thanh thoát. Amen. (Mana).
 
——————————————————–
 
  1. “Comment lire un évangile?”, Seuil, trang 103.
  2.  
  3. “Với cả tâm tình”, trang 117-120, ĐGM Giuse Vũ Duy Thống.
  4.  
  5. “Với cả tâm tình”, trang 121.
  6.  
  7. “Đạo trong đời”, trang 252-255, Lm Nguyễn Hồng Giáo.
  8.  
 
 

58. Sứ mạng của người môn đệ – Jos.Vinc. Ngọc Biển
 
Đức Giêsu được Chúa Cha sai xuống trần gian để thực thi sứ vụ loan báo về Nước Trời và mời gọi mọi người tin để được cứu độ. Vì thế, đây chính là mối bận tâm hàng đầu của Ngài. Mối ưu tư đó được thể hiện rất rõ qua bài Tin Mừng hôm nay, khi thầy trò đang đi qua cánh đồng; “tức cảnh sinh tình”, Ngài nhìn các môn đệ và chỉ ra đồng lúa đã chín vàng rồi cất tiếng nói: “Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt lúa về.” (Lc 10,2). Ngay sau đó, Đức Giêsu đã sai 72 môn đệ đi rao giảng Tin Mừng.
 
  1. Sứ mạng tông đồ
  2.  
Trong thời Cựu Ước, sứ mạng này thuộc về các ngôn sứ, thủ lãnh và các vua chúa. Các ngài là những trung gian để nói lời của Thiên Chúa cho dân; đồng thời cũng là những người chuyển cầu lên Chúa những nhu cầu của dân…
 
Thật vậy, Bài đọc I hôm nay cho chúng ta thấy: Tiên tri Isaia loan báo cho dân về một giai đoạn tự do. Dân không còn bị lệ thuộc trong thân phận nô lệ bên Babylon nữa, bởi vì vua Ba Tư đã ký và cho phép dân Israel hồi hương, kết thúc giai đoạn lưu đày. Tuy nhiên, lòng dân vẫn chưa thấy bình an, nỗi lo vẫn còn đó…! Biết được sự trăn trở của họ, Tiên tri Isaia đã trấn an họ bằng việc loan báo Chúa sẽ ban bình an và vinh quang cho Giêrusalem. Bổn phận của họ là kiên trì và tin tưởng vào Người. Cuối cùng là lời hứa cho những ai đặt trọn niềm cậy trông nơi Chúa, họ sẽ được no nê, sung sướng, bình an, được vỗ về, an ủi và nâng niu. Giống như người mẹ yêu thương con mình thế nào, Thiên Chúa cũng yêu thương dân của Người như vậy.
 
Sang Bài đọc II, Thánh Phaolô nêu lên cốt lõi của niềm tin và lời rao giảng nơi người môn đệ chính là Mầu nhiệm Thập Giá của Đức Kitô.
 
Nếu thành Giêrusalem trong thời Cựu Ước là niềm hy vọng, là sự bình an của dân Israel, thì sang thời Tân Ước, chính thập giá của Đức Kitô mới đem lại ơn cứu độ thực sự cho dân Ngài.
 
Thật vậy, Thánh Phaolô đã mạnh dạn tuyên bố niềm xác tín đó của mình khi nói: “Trong khi người Dothái đòi dấu lạ, và người Hylạp tìm sự khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô đã bị đóng đinh vào thập giá, cớ vấp phạm cho người Dothái, sự điên rồ đối với người dân ngoại (Hylạp).” (1 Cr 1,22-23).
 
Không chỉ nói, mà cả cuộc đời của ngài diễn tả niềm vui vì được kết hợp với Chúa Giêsu chịu đóng đinh: “Đối với tôi, không một vinh quang nào khác ngoài vinh quang thập giá Đức Kitô.”
 
Như vậy, nội dung của lời rao giảng nơi Thánh Phaolô chính là Thập giá Đức Kitô. Lời loan báo này đi ngược lại với lối hiểu và niềm hy vọng của con người, cho nên khi thi hành sứ mạng ấy, người môn đệ không thể nào tránh khỏi những cám dỗ về quyền hành, tiền bạc và danh vọng; đồng thời những khó khăn về địa lý, về tâm thức, cũng như bị chống đối vì hiểu lầm, bị bắt bớ và đe doạ cả đến tính mạng là điều luôn luôn xảy ra đối với đời sống tông đồ. Người môn đệ Đức Kitô muốn thoát ra khỏi những thứ đó để vẫn rao giảng cách trung thành và toàn diện về một Đức Kitô là Đấng cứu độ duy nhất thì phải có một tinh thần tông đồ sâu sắc.
 
  1. Tinh thần tông đồ
  2.  
Trước hết, khi đã gợi hứng cho các môn đệ về sứ vụ loan báo Tin Mừng qua hình ảnh cánh đồng lúa chín vàng, Đức Giêsu bắt đầu sai họ ra đi để thu hoạch cho Ngài. Ngài sai “cứ từng hai người” một. Khi sai các môn đệ đi từng cặp hai người một như vậy, Đức Giêsu muốn cho các ông hiểu rằng: khi loan báo về Nước Trời, thì trước tiên phải có sự hiệp thông; mặt khác, khi sai các ông đi từng cặp như vậy, Đức Giêsu trang bị cho các ông một điểm tựa, điểm tựa ấy là sự thật, bởi vì lời chứng của hai người là sự thật.
 
Khi đồng tâm nhất trí với nhau trong cùng một lời nói, cùng chia sẻ với nhau trong cùng một nội dung của lời giảng, người môn đệ đem lại cho con người niềm hy vọng. Niềm hy vọng này bắt nguồn từ truyền thống của dân Israel thời Cựu Ước.
 
Thứ đến, Đức Giêsu tiên báo cho các môn đệ thấy trước những khó khăn thử thách, những rào cản trên cuộc hành trình ấy: “Thầy sai các con đi như chiên con đi giữa bầy sói.” (Lc 10,3). Ngài nói trước những khó khăn như vậy để cho các ông thấy rằng, trong khi loan báo về Nước Trời, không thiếu những kẻ không muốn vào mà lại còn tìm cách ngăn cản không cho những người khác được vào và khi ấy họ sẽ tìm cách triệt hạ những người được mời gọi. Chiên thì hiền lành mà sói thì hung dữ. Cuộc sống và hành trình này không phải lúc nào cũng xuôi trèo mát mái, mà luôn gặp phải những bão táp cuồng phong. Khi đưa ra hình ảnh của “chiên” và “sói”, Đức Giêsu muốn dạy cho người môn đệ bài học về sự kiên trì, chịu đựng, và trong mọi hoàn cảnh họ phải sống đúng bản chất của mình là “chiên” chứ không phải là “sói”, để yêu thương ngay cả kẻ thù của mình nữa.
 
Tiếp theo, tinh thần siêu thoát nhẹ nhàng là hành trang của người môn đệ. Trên hành trình ấy, Đức Giêsu không chấp nhận người môn đệ mang những thứ cồng kềnh. Bởi vì những thứ đó sẽ làm cho người môn đệ sinh ra nặng nề và đôi khi bỏ cuộc chỉ vì những chuyện phụ thuộc như “củ hành củ tỏi”. Vì thế, Ngài nói: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép…”. Các môn đệ phải sống nghèo thực sự. Có sống nghèo, các ngài mới có sự cảm thông, liên đới, mới dám chấp nhận tất cả vì sứ mạng.
 
Hơn nữa, loan báo về Nước Trời phải là một sự cần kíp, cấp bách đến độ phải ưu tiên hàng đầu. Vì thế, Đức Giêsu căn dặn các ông rằng “đừng chào hỏi ai dọc đường”. Ngài sai các ông lên đường với một mệnh lệnh khẩn trương, đòi hỏi người môn đệ phải nhanh nhẹn. Khi truyền cho các ông như thế, Đức Giêsu muốn dạy các ông rằng: khi loan báo Tin Mừng, không được quan tâm đến những chuyện bên lề quá nhiều để rồi quên đi việc chính yếu.
 
Cuối cùng, là tinh thần kiên nhẫn. Phải chăng chính Đức Giêsu đã cảm nghiệm sâu sắc khi người dân quê của Ngài nói: ông ấy chẳng phải là con bà Maria hay sao, cha ông ta lại không phải là bác thợ mộc…? Rồi biết bao những chống đối, ngờ vực, không tin, bị bắt bớ, đánh đòn nữa… Vì vậy, Ngài nói: “Vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón…”. Chúa muốn dạy cho các ông phải có tinh thần kiên trì, chịu đựng, không được nóng vội.
 
Như vậy, Đức Giêsu căn dặn, cảnh báo cho các ông tất cả những đức tính cần phải có nơi người môn đệ, đồng thời những khó khăn các ông sẽ gặp trên hành trình loan báo ấy, rồi đến lượt chúng ta, chúng ta loan báo bằng cách nào?
 
  1. Sứ mạng tông đồ của mỗi chúng ta
  2.  
Khi sai 72 môn đệ đi loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu muốn cho mỗi người chúng ta được tham dự vào sứ mạng ngôn sứ phổ quát của Ngài. Sứ mạng ấy được khởi đi từ lệnh truyền của Đức Giêsu: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mc 16,15). Từ đó, chúng ta xác định căn tính truyền giáo thuộc về chúng ta. Bao lâu chúng ta không truyền giáo, thì bấy lâu ta đánh mất bản chất của mình. Nói như Thánh Phaolô: “Khốn thân tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng.” (1 Cr 9,16). Nỗi lòng thao thức của Đức Giêsu – “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít…” – phải là lời chất vấn lương tâm mỗi chúng ta. Là Kitô hữu, chúng ta cùng đồng lòng và cảm nghiệm với Đức Giêsu trước những cánh đồng bao la đang độ chín vàng… Tham gia vào sứ mạng truyền giáo là chúng ta đang đóng góp cho Giáo Hội những viên gạch, hạt cát để xây nên tòa nhà Giáo Hội, nơi đó là niềm vui, hạnh phúc và bình an.
 
  1. Cách thức loan báo Tin Mừng
  2.  
Thiết nghĩ, trong cuộc sống của con người thời nay, niềm tin của họ đang bị đánh cắp hay bị đặt sai chỗ bởi những chủ thuyết tương đối, dẫn đến tình trạng bình thường hoá mọi mặt, kể cả những giá trị đạo đức, những chân lý đức tin. Đứng trước thực trạng trên, chúng ta có bổn phận phải trở nên ánh sáng cho trần gian và muối ướp cho đời.
 
Nếu muối có tác dụng làm tăng vị cho thức ăn, ướp cho khỏi hư thối, thì người Kitô hữu cũng phải có bổn phận trở nên chứng nhân của sự thật, một sự thật sẵn sàng sống chết để bảo vệ cho chân lý.
 
Nếu ánh sáng để soi sáng cho người ta đi đường và giúp tìm ra những thứ ở trong bóng tối thế nào, thì người Kitô hữu truyền giáo cũng phải trở nên ánh sáng, gương mẫu cho mọi người như vậy.
 
Sứ mạng truyền giáo ấy khởi đi từ trong gia đình: chồng làm chứng cho vợ, vợ làm chứng cho chồng. Cha mẹ nêu gương sáng cho con cái. Bạn bè sống tốt với nhau trong môi trường, công ty xí nghiệp. Hàng xóm láng giềng ăn ở hài hoà, sẵn sàng giúp đỡ nhau những lúc cần kíp…
 
Khi sống đời chứng tá bằng những giá trị Tin Mừng như thế, chúng ta sẽ gặp không ít những khó khăn, thử thách trong đời sống. Không thiếu gì những cám dỗ làm cho muối ra nhạt, ánh sáng bị lu mờ. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn luôn nhớ mình thuộc về Đức Kitô, có tránh nhiệm mang Ánh Sáng ấy soi sáng thiên hạ.
 
Có thế, chúng ta mới được coi là xứng đáng đón nhận phần thưởng của Chúa trao ban cho những ai đã cùng Ngài để quy tụ muôn dân về một mối là Nước Trời: “Hãy vui mừng vì tên các con đã được ghi Trên Trời.”
 
Lạy Chúa, còn biết bao nhiêu người chưa nhận biết Chúa, biết bao nhiêu con chiên lạc chưa được đưa về ràn. Xin Chúa ban cho những người con của Chúa luôn sẵn sàng, hăng say loan báo Tin Mừng cho những người chưa nhận biết Chúa. Ước gì mọi người con của Chúa trên trần gian này đều được quy tu thành một ràn chiên duy nhất, dưới sự lãnh đạo của Vị Mục Tử Tối Cao là chính Chúa. Amen.
 
 
 

59. Sai đi
 
“Không có vị tiên tri nào được chấp nhận nơi quê hương mình..” (Lc 3, 24)
 
Bài TM hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu sai các môn đệ ra đi loan báo TM về Nước Thiên Chúa. Trước khi sai đi, Chúa ân cần dạy dổ họ nhiều điều… Và rồi, họ đã ra đi và trở về trong hân hoan, tường thuật lại kết quả họ làm được…Câu chuyện về việc ra đi truyền giáo của Đức Cha Lambert de la Motte, GM tông tòa đầu tiên của địa phận Đàng Trong VN (từ sông Gianh trở vào Nam), là điển hình của câu chuyện TM Chúa sai các môn đệ ra đi hôm nay….Kính mời anh chị em cùng suy niệm.
 
  1. Có mấy điểm chúng ta sẽ theo dỏi tìm hiểu hôm nay:
  2.  
* Phúc âm ghi (Lc c.1-3): Chúa sai 72 môn đệ khác, ngoài nhóm 12: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít…Thầy sai anh em đi như chiên giữa bầy sói.” Chúa Giêsu đã có chủ ý chọn các môn đệ, dạy dổ họ rồi sai họ đi. Đây không phải là việc tình cờ… Năm 1659, Tòa thánh đặt Cha Lambert de la Motte làm GM tông tòa đầu tiên địa phận Đàng Trong. Trước đó đã có các nhà truyền giáo đến xứ này, nhưng chưa chính thức. Xưa Chúa sai các môn đệ ra đi như chiên giữa bầy sói, nay Tòa thánh cũng sai Đức Cha Lambert và các Lm đến VN đầy gian nan thử thách. Dự định đi tàu, tàu vỡ; đành phải đi bộ. Bệnh hoạn giữa đường tưởng mạng vong. Ngài đến đất Thái Lan vẫn chưa yên, còn bị người Bồ Đào Nha đòi bắt và trục xuất (vì lúc đó Tòa thánh muốn thoát khỏi quyền bảo hộ của nhà vua Bồ). Ngài còn bị viên quan trấn thủ Nha Ru đầu độc, vì ông này theo người Bồ, suýt chết, phải hơn tháng mới khỏi bệnh…
 
Lc c.4: Chúa nói: các con đừng mang túi tiền, bao bị, dày dép: Chúa dạy hãy tin cậy vào Chúa, đừng tin và cũng đừng lo cho bản thân… Những năm đầu tiên trên đất truyền giáo, Đức Cha Lambert và các vị thừa sai đã thảo luận và soạn “huấn thị cho người tông đồ”. Ngài sẽ gởi về tòa thánh xin phép cho họ thực hành bộ luật này. Ngày nay khi đọc lại bộ luật đó, người ta sẽ rất ngạc nhiên vì tính nghiêm túc và khắc khổ của nó. Ngoài việc tuân giữ bình thường của giới tu sĩ, các ngài còn tự nguyện hãm mình phạt xác để cho kết quả truyền giáo lên cao như: cấm ăn thịt và uống rượu – ăn chay cả tuần trừ chúa nhật và lễ nghỉ- ngủ nghỉ đơn giản – nguyện ngắm lâu giờ trong ngày. Cuối cùng Tòa thánh không chấp nhận những luật lệ gắt gao này như: ăn chay trường kỳ và cấm tuyệt đối không ăn thịt… Dù vậy khi biết ý của Tòa thánh, Đức Cha là người vâng lời Tòa thánh trước tiên và sốt sắng nữa.
 
Lc c.5.9: Chúa nói: khi vào nhà nào, hãy chúc lành cho họ…hãy chữa những ai đau yếu và nói với mọi người: Nước Thiên Chúa đã đến gần… điều bận tâm cả đời của Đức Cha Lambert, dù ngài là một ông tây, một Giám mục, là xem coi giáo đoàn ngài có trách nhiệm phát triển đến đâu. Đi đến đâu, ngài đều được mọi người yêu mến, yêu mến vì lòng đạo đức, đơn sơ và khiêm tốn của ngài. Ngài ăn uống đạm bạc, ăn ít, không bao giờ uống rượu. Dù rất ghét ăn thịt, nhưng khi biết ý chỉ của Tòa thánh và hội Thừa sai Paris , ngài vâng lời cho dọn thịt lên bàn ăn ngay. Lòng bác ái của ngài dành cho người nghèo, bệnh tật không biên giới. Cứ ba tuần, ngài cử người đi thăm các tù nhân, giúp đở tiền bạc rộng rải cho họ. Vì quá lo lắng cho công cuộc truyền giáo, ngài rất bận tâm đào tạo hàng giáo sĩ, thày giàng, thành lập dòng MTG thuộc quyền địa phận. Cuộc đời truyền giáo của ngài xem ra cũng được Chúa thưởng công bằng một số việc lạ như: chữa cho hoàng đệ của vua Xiêm khỏi liệt một phần- trừ quỷ cho một cô gái – cứu sống một hài nhi coi như đã chết – và sau khi chết còn chữa cho một anh thanh niên mù 8 năm được sáng mắt…
 
  1. Gợi ý sống và chia sẻ: Chúa Giêsu đã nói với các mộn đệ được sai đi: đừng vui mừng vì ma quỉ bị khuất phục, nhưng hãy vui mừng vì tên của anh em được ghi trên trời. Đức Cha Lambert chắc chắn đã vui mừng như lời Chúa Giêsu nói. Còn phần chúng ta, vui mừng cách nào đây?
  2.  
 
 

60. Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt lại ít.
 
(Suy niệm của Lm. Vinh sơn Ngô Đức Duy)
 
LỜI DẪN
 
Kính thưa cộng đoàn, Trong thế giới ngày nay, những nơi chưa nhận biết Chúa còn rất nhiều nhưng lại thiếu những tông đồ nhiệt tâm, dấn thân, ra đi rao giảng Tin Mừng.
 
Sứ vụ loan báo Tin mừng là bản chất của Giáo hội. Vì thế, Giáo hội không ngừng kêu gọi mọi người hãy nhiệt tâm ra đi rao giảng lời Chúa, đem Chúa đến những nơi chưa biết Tin mừng. Chúng ta là những đoàn chiên của Giáo hội, vì thế, sứ vụ này cũng là bổn phận và trách nhiệm của mỗi người Kitô hữu chúng ta.
 
Trong tâm tình đó, chúng ta cùng nhau quỳ trước Thánh Thể Chúa, xin Ngài ban cho Giáo hội nhiều tông đồ nhiệt thành, dám dấn thân ra đi loan báo Tin Mừng ở khắp mọi nơi. Xin cho ơn gọi tông đồ trong Giáo hội ngày càng gia tăng để có nhiều thợ gặt mang những bó lúa về cho chủ.
 
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, trên thế giới hiện nay có hơn sáu tỉ người, mới chỉ có hơn một tỉ người là người Kitô hữu. Con số chênh lệch này nhằm nói lên rằng: số người chưa nhận biết Chúa còn rất nhiều, như Chúa đã từng nói với các môn đệ năm xưa: “Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt lại ít” (Lc 10, 2). Vì thế, ngày nay Giáo hội rất cần có những tông đồ nhiệt thành loan báo Tin Mừng cho những người chưa nhận biết Chúa; rất cần những tông đồ có tinh thần dấn thân đem ánh sáng lời Chúa đến những nơi tối tăm, đem niềm vui đến những nơi sầu khổ….
 
Đối với Chúa, việc truyền giáo, rao giảng Tin Mừng là một mối lo âu khắc khoải. Điều này đã được thể hiện trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa đã chỉ định và sai các tông đồ đi rao giảng Tin Mừng. Khi sai đi, Chúa đã nói với các ông: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Anh em hãy ra đi” (Lc 10, 2-3).
 
Mệnh lệnh sai đi loan báo Tin Mừng của Chúa đối với các môn đệ năm xưa không mất đi nhưng vẫn còn vang vọng, kêu gọi khẩn thiết đối với Giáo hội, với mọi người kitô hữu chúng con trong thời đại hôm nay. Người muốn mỗi người chúng con mang Tin Mừng đến khắp mọi nơi như năm xưa người đã nói với các môn đệ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 5). Quả thực, sứ vụ loan báo Tin Mừng là bản chất của Giáo hội. Sứ vụ này không chỉ dành riêng cho những tu sĩ, linh mục mà cho tất cả mọi người chúng con. Bởi vì, khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, chúng con đã được tham dự vào đoàn dân riêng của Chúa, chúng con mang vào mình sứ vụ ngôn sứ là loan báo Tin Mừng cứu độ cho mọi người. Vì thế, mỗi người chúng con đều có bổn phận loan báo Tin Mừng tùy theo chức phận của mình trong Giáo Hội.
 
Bổn phận loan báo Tin Mừng cũng được Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trình bày trong cuốn sách “Nói với bạn trẻ hôm nay” như sau: “Toàn thể hội thánh đón nhận lệnh truyền của Đức Kitô: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 5). Vậy tất cả hội thánh có tính thừa sai và phúc âm hóa, sống trong một tình trạng truyền giáo liên lỉ. Làm Kitô hữu nghĩa là làm những người thừa sai tông đồ, khám phá ra Đức Kitô chưa đủ, phải mang Người đến cho người khác nữa!”.
 
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng con ý thức rằng: mỗi người đều có bổn phận trong việc loan báo lời Chúa, đem Chúa đến cho mọi người. Xin cho chúng con dám ra đi khi nghe thấy tiếng Chúa mời gọi như các tông đồ năm xưa đã mau mắn ra đi khi nghe tiếng Chúa gọi mời: “Các môn đệ ra đi, rảo qua các làng mạc loan báo Tin Mừng và chữa bệnh khắp nơi” (Lc 9, 6). Xin cho chúng con can đảm nói về Chúa, can đảm làm chứng về đức tin bằng lối sống của chúng con, lối sống được kín múc ra từ Tin Mừng.
 
“Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt lại ít” (Lc 10, 2). Do đó, để có nhiều thợ gặt lành nghề, nhiệt tâm; muốn có nhiều thợ gặt xung phong vào cánh đồng phì nhiêu kia, Chúa đã dạy chúng con phải cầu nguyện. Chúa đã từng nói với các môn đệ năm xưa: “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Lc 10, 3). Người chủ ruộng đó chính là Thiên Chúa, Ngài làm chủ sự sống, làm chủ ơn cứu độ. Chính Người sẽ ban cho chúng con những thợ gặt khi chúng con cầu khẩn người.
 
Cầu nguyện là công việc của mọi người và có thể làm bất cứ lúc nào. Cầu nguyện còn chứng tỏ lòng tin tưởng, phó thác, cậy trông của chúng ta vào nơi Chúa. Chúng ta tin rằng Chúa luôn đồng hành và giúp ta trong mọi công việc: từ việc sai thợ gặt đến cánh đồng truyền giáo cho đến rao truyền lời Chúa để người ta chấp nhận Tin Mừng, trở về với Chúa… tất cả đều do ân sủng của Chúa.
 
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin gởi đến cho nhân loại nhiều thợ gặt lành nghề, thợ gặt nhiệt tâm. Xin cho ơn gọi tông đồ trong Giáo hội ngày càng gia tăng để có nhiều thợ gặt mang những bó lúa về cho chủ. Xin cho mọi người chúng con trong sứ vụ loan báo Tin Mừng luôn biết tín thác vào Chúa, luôn biết chạy đến Ngài để kín múc lòng nhiệt huyết rao giảng Tin Mừng cho mọi người. Amen.
 
 
 

61. Chú giải của Noel Quesson
 
Sau đó. Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến.
 
Là bạn đồng hành của Phaolô, tông đồ các dân ngoại Luca nhấn, mạnh đến điểm này của cuộc đời Đức Giêsu. Trong số bốn thánh sử, Ngài là người duy nhất thuật lại giai đoạn này. Trong lúc Luca viết ra, Ngài đã thấy các cộng đoàn Kitô hữu được khai sinh ở giữa các đô thị và vùng đất của dân ngoại. Một số các nhà thờ địa phương ấy được khai sinh không phải do hoạt động của các tông đồ được chính thức ủy nhiệm, nhưng do hoạt động tông đồ của giáo dân, của các ông, các bà phải di chuyển vì nghề nghiệp và họ đã loan báo Đức Giêsu (Rô-ma 16).
 
Luca nhấn mạnh rằng chính Đức Giêsu đã thiết lập việc tông đồ của các môn đệ. Đức Giêsu không chỉ sai Nhóm Mười Hai đi (Lc 9, l-6). Người cũng đã sai bảy mươi hai môn đệ,ra đi và hầu như trong cùng một thời gian (Lc 10, 1,20) để thực hiện cùng một sứ mạng… vả lại với nhiều tình huống hơn sứ mạng của hàng giáo phẩm. Người ta sẽ không bao giờ kể lại điều đó cho đầy đủ, Giáo Hội không chỉ và không trước tiên là Giáo Hoàng và các Giám Mục mà là “dân Thiên Chúa”, là mỗi Kitô hữu.
 
Tôi có tin rằng Đức Giêsu sai tôi đi không? Rằng tôi là “sứ giả” “Người được sai đi” của Chúa đến với người này, người nọ không? Phải có cả các phụ nữ trong số những người được sai đi đó (Lc 8, 13)
 
“Bảy mươi hai”… ám chỉ tính toàn cầu của các dân ngoại được kể ra trong sách Sáng Thế (St 10), một số thủ bản nói về con số bảy mươi. Dĩ nhiên, con số không hạn chế và cũng không phải là con số của số học. Tất cả mọi người! Tất cả mọi dân tộc.
 
Cứ từng hai Người một”… Đây là con số mà Luật đòi hỏi để một chứng từ được nhận là có giá trị (đệ nhị luật 19,15). Đó cũng là tập quán của những Kitô hữu đầu tiên đi truyền giáo, không bao giờ họ đi một mình: Phaolô và Bác-na-bê… Bác-na-bê và Máccô… Phaolô và Si-la…
 
Đời sống hiện đại, công việc nghề: nghiệp, khoa học, học đường, văn hóa đã đề cao giá trị của việc kết hợp thành tổ nhóm. Có phải tôi đang là một ky sĩ độc hành không?
 
“Đi trước… các nơi mà Người sẽ đến… ” Công việc tông đồ lúc nào cũng phải khiêm tốn. Người ta chỉ có thể chuẩn bị mà thôi. Chính Đức Gỉêsu sẽ đến làm công việc thật sự. Chúng ta chỉ là những kẻ mở đường.
 
Người bảo các ông: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”.
 
Trong viễn cảnh mà Đức Giêsu nhắm đến, rõ ràng là con số bảy mười hai người đầu tiên tuy khá lớn nhưng sẽ không đủ Những người thợ mới phải không ngừng bắt tay vào công việc. Đức Giêsu nhìn xa trông rộng? “Mùa gặt” là một hình ảnh truyền thống trong Kinh thánh để nói về thời kỳ: sau hết, sự can thiệp của Thiên Chúa vào thời mạt thế (Gian 4,13; Mát-thêu 13,39; Khải Huyền 14, 15-16). Trong Đức Giêsu, thời kỳ sau hết này đã bắt đầu. Đức Giêsu nhìn thấy sự dồi dào của “mùa gặt thánh thiêng” ấy mà Thiên Chúa là chủ mùa gặt.
 
Tôi có thật sự tin chắc rằng nhiều người, đàn ông cũng như đàn bà sẵn sàng đi theo Tin Mừng? Nhưng các thợ gặt đang thiếu, Đức Giêsu nói. Tức khắc, trước sự thiếu thợ gặt đó (do vậy không chỉ là một nhược điểm của thời đại chúng ta), Đức Giêsu đưa ra cho chúng ta một giải pháp duy nhất là sự cầu nguyện. Đối với Người, rõ ràng là việc tông đồ không phải là một công việc của con nguời như tuyên truyền hay quảng cáo, nhưng là một công việc của Thiên Chúa, một ân sủng. Tôi có cầu nguyện để có thêm nhiều thợ gặt không? Trước hết là giáo dân… nhưng cả các linh mục, tu sĩ nam nữ. Phần tôi? Tôi có phải là một người thợ gặt làm việc cho công cuộc cứu chuộc không?
 
Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con di vào giữa bầy sói.
 
Anh em hãy ra đi? Đây là một mệnh lệnh. “Thầy” sai anh em…
 
Đức Giêsu không che giấu sự khó khăn trong công việc Và chúng ta tiếp tục ngạc nhiên vì có nhiều người bỏ mất đức tin vì chưng thất bại to lớn trong việc truyền bá đức tin. Tuy nhiên chúng ta đã được cảnh báo rõ. Hình ảnh cũng làm ta kinh ngạc và khó chịu: tín hữu như một con chiên con bị một bầy sói tấn công. Chúng ta chớ gán cho hình ảnh những ý nghĩa mà nó không có. Mọi dân ngoại, mọi người vô ưu đều được Thiên Chúa yêu thương. Nhưng “đàn chiên bé nhỏ” rất cần có chủ chăn bảo vệ (Ga 15, 18; 10, 1.16). Đức Giêsu đã báo trước chó Giáo Hội của người: Giáo Hội thường xuyên ở trong tình trạng nguy hiểm? Những thời kỳ yên tĩnh, bình an đúng ra phải làm chúng ta ngạc nhiêm… Vậy thì hãy có lòng trông cậy.
 
Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép…
 
Điều đáng lưu ý là Đức Giêsu sẽ không đưa ra một hướng dẫn nào về “học thuyết”! Người không nói về nội dung của đttc tin… nhưng nói về các thái độ cụ thể của những người đi thuyết giảng! Y phục, hành trang, cách giao tiếp. Các nhà truyền giáo trước hết loan báo Nước Thiên Chúa bằng cách sống của họ!
 
Trước tiên, Đức Giêsu đặt ra yêu sách sống nghèo khó Không nên ỷ vào các phương tiện của con người.. Đức Giêsu đã không sử dụng các vũ khí của quyền lực, của sự giàu sang của vẻ lộng lẫy, huy hoàng… Đức Giêsu không ra vẻ “trịnh trọng”; Người “vốn giàu sang đã trở nên nghèo hèn”. Yêu sách đầu tiên của Giáo Hội là theo hướng của thầy mình, là trở nên nghèo khó.
 
Đừng chào hỏi ai dọc đường…
 
Đây không phải là một mệnh lệnh về sự vô lễ, nhưng về sự cấp bách! Không nên mất thời gian vì những cử chỉ lễ phép quá, mức và dài dòng, vì những lề thói thế tục.
 
Trong Luca, điều gây ấn tượng mạnh là các sứ giả của Tin Mừng “chạy” khắp nơi: Đức Maria chạy, đi thăm viếng, các mục đồng chạy đến máng cỏ, Phi-líp-phê chạy để đuổi kịp chiếc xe của một người ê-thi-óp (Công vụ 8,30). Còn tôi thì sao? Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói! “Bình an cho nhà này!”. Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ đậu trên người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ quay về với anh em. Giờ đây là một phong cách sống nào đó: sự bình an, niềm vui trong sáng. Một sự hiệp thông của bình an và mềm vui. Hãy có nơi chính mình một sự bình an và chuyển sự bình an ấy cho người khác “Bình an của anh em sẽ đậu trên người ấy…” Tin Mừng cũng chính là điều đó? làm chuyển động một dòng chảy sung mãn hài hòa giữa các con người.
 
Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em.
 
Những vấn đề về ăn uống này đối với chúng ta dường như rất ty tiện. Khi người ta biết những cấm đoán theo đúng nghi lễ của người Do Thái, những lời ấy của Đức Giêsu vang lên như một ‘sự giải phóng phi thường: anh em hãy ăn mọi thứ thức ăn mà không cần bận tâm xem những thức ăn ấy tinh khiết hay ô uế. Ở đây, Đức Giêsu xuất hiện với chúng ta như một người thật sự đi trước thời đại của mình. Thật vậy; Người biện hộ cho một sự cởi mở phóng khoáng đối với tục lệ và tập quán của những người khác chấp nhận các tục lệ văn hóa của các dân tộc mà chúng ta muốn rao giảng Tin Mừng! Điều đó đi rất xa.
 
Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông.”
 
Tin Mừng này trước tiên rất cụ thể; rất thực tiễn. Đó là một Tin Mừng, bằng hành động làm điều thiện, đẩy lui điều ác an ủi, cứu chữa…
 
Triều đại của Thiên Chúa. Kế hoạch của Thiên Chúa. Dự án của Thiên Chúa. Người ta chờ đợi Triều đại đó cho thời kỳ sau hết. Triều Đại ấy. có ở đó, Đức Giêsu nói… rất gần? Rất gần anh em. Triều đại trong đời thường, thông thường nhất, của anh em, và anh em không biết khám phá sự gần gũi ấy. Triều đại của Thiên Chúa là gì? Chính là Đức Giêsu. Đó là hạt giống mầu nhiệm của Thiên Chúa được đặt vào chính tấm lòng của con người. Với Đức Giêsu, Thiên Chúa hiển trị, Thiên Chúa ở đó, ngay từ bây giờ. Trong Đức Giêsu, sự hoàn thành của thế gian đã được lan rộng. Tin Mừng là một điều gì rất đơn giản: chính nghĩa của Thiên Chúa sẽ chiến thắng và chính nghĩa ấy là tương lai tuyệt đối của con người, và nó đã bắt đầu! Thế gian sẽ không trường tồn mãi mãi, lịch sử của nhân loại sẽ có lúc kết thúc, nhưng sự chấm dứt này không phải là hư vô, mà chính là Thiên Chúa. Tin vào Thiên Chúa, chính là tham dự trước vào sự thành công ấy, chính là ngay từ bây giờ làm cho chính nghĩa của con người thành công vì chính nghĩa của con người chỉ là một với chính nghĩa cửa Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Một cách cụ thể, Triều đại của Thiên Chúa chính là “thực thi thánh ý của Thiên Chúa”: Nguyện “Nước Cha trị đến, ý cha thể hiện dưới đất! Và thánh ý của Thiên Chúa, chính là điều tốt lành trọn vẹn của con người: sự chữa trị các bệnh tật thực sự hư hỏng tính toàn vẹn của con người) là một dấu chỉ của thánh ý ấy: “Anh em hãy cứu chữa con người? ” Triều đại của Thiên Chúa ở đó, rất gần!
 
Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: “Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin gửi trả lại các ông. ‘Tuy nhiên các ông phải biết điều này. Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. “Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy thành Xơđom còn được xử khoan hồng hơn thành đó”.
 
Rõ ràng Đức Giêsu đắ đối diện với các thất bại, các sự khước từ không tin… Nhưng sự báo trước chính nghĩa của Thiên Chúa phải thành công (cũng là sự thành tựu của chính nghĩa con người?) vẫn tồn tại; dù các ông, có muốn hay không, một ngày kia, Thiên Chúa sẽ hiển trị, và đó là Ngày Phán Xét… dĩ nhiên, các ông là những người cố tình và ngoan cố chối từ, các ông sẽ ở lại bên ngoài sự thành công ấy mà lẽ ra làm sự thành công của các ông.
 
Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: “Thưa Thầy nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con”. Đức Giêsu bảo các ông: “Thầy đã thấy Xatan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực kẻ thù mà chẳng có gì làm hại được anh em. Tuy nhiên anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời”.
 
Nhóm Bảy Mươi Hai đầu tiên không chỉ có thất bại công việc tông đồ của họ đã thành công: những quyền lực của sự ác đã lùi ‘ bước. Đó là một nỗi vui mừng Đức Giêsu làm giảm nhẹ chủ nghĩa đắc thắng có hơi ngây thơ và rất tự nhiên của họ: anh em hãy thán phục, phải! Nhưng nhất là hãy tạ ơn, hãy đi vào nội tâm! Niềm vui chủ yếu là được tham dự vào Thiên quốc, và đã tham dự rồi.
 
 
 

62. Chú giải của William Barclay
 
Chỉ có mình thánh Luca ghi lại việc sai phái bảy mươi hai môn đệ đi trước sửa soạn cho chức vụ của Chúa Giêsu. Điều này phù hợp với việc Chúa kéo dài cuộc hành trình trên đường về Giêrusalem. Công tác của họ chỉ trong một thời gian hạn định, nhưng trong lời huấn thị đưa ra cho họ, Chúa Giêsu đã đưa ra những nguyên tắc căn bản áp dụng cho mọi thời. Trước hết Ngài tỏ cho biết lý do của sự lựa chọn họ: đó là vì cánh đồng lúa gặt thì lớn mà thợ gặt thì ít quá. Trước khi thế gian nhận được sứ điệp họ mang tới, họ và những người kế vị họ phải tha thiết cầu nguyện với Chúa màu gặt sai thợ đến. Đó là một lời cầu nguyện mà mọi kẻ phụng sự Chúa Kitô phải dâng lên tự đáy lòng mình. Lòng yêu mến chúng ta đối với Chúa sẽ khiến chúng ta cố gắng hoàn thành công tác mau chóng hơn, và muốn được vậy cần phải có đông công nhân hơn.
 
Đối với người Do thái, số bảy mươi hai là số biểu tượng. Đó là số các trưởng lão đã được lựa chọn để giúp đỡ lãnh tụ Môsê, với phận sự điều khiển, hướng dẫn dân chúng trong sa mạc. Đó là số thành viên của Hội đồng quốc gia. Nếu số bảy mươi hai chỉ đoàn thể nào trong hai đoàn thể đó thì họ cũng là phụ tá cho Chúa Giêsu. Số đó cũng được coi như số các nước trên thế giới lúc bấy giờ. Luca là người có tầm mắt quốc tế, có lẽ ông đang nghĩ đến một ngày mà mọi nước trên thế giới sẽ nhận biết và yêu mến Chúa Giêsu, như ông đang yêu mến Ngài vậy.
 
Đoạn Kinh Thánh cho ta biết mấy điều hết sức quan trọng về người truyền đạo cũng như thính giả.
 
  1. Người giảng đạo khi ra đi phải sẵn sàng chờ đợi sự hiểm nguy “như chiên giữa bầy muông sói”, nhưng họ cũng đừng để cho lòng bối rối vấn vương vào những sự thế tục. Sứ giả cần lên đường cách nhẹ nhàng.
  2.  
  3. người giảng đạo cần phải chú tâm vào bổn phận của mình, đừng phí thì giờ vào những nghi lễ lạt lẽo vô vị, nhưng phải ra đi như những con người được thúc giục bởi một động lực cao cả “Người ấy không được chào ai dọc đường” điều này nhắc lại điều lời tiên Êlia bảo tên đầy tớ Giêkhađi đi giúp cho bà ân nhân đất Sunêm khi đứa con đã chết: “Hãy thắt lưng, cầm gậy của ta mà đi! Gặp ai thì đừng có chào, ai chào thì đừng đáp lại”. (2V 4,29). Đó không phải là dạy làm điều bất lịch sự nhưng là người của Thiên Chúa không nên quay ngang hoặc trì trệ vì những điều nhỏ nhặt đang khi những việc lớn chờ đợi kêu gọi mình.
  4.  
  5. Người giảng đạo không nên làm việc để kiếm tư lợi. Người ấy nên ăn những món người ta dọn cho mình, không nên đi từ nhà này qua nhà khác cố ý tìm nơi dễ chịu hơn, đầy đủ tiện nghi hơn. Chẳng bao lâu sau khi được thiết lập Hội Thánh đã có những hạng người ăn bám. Cuốn “Giáo lý của mười hai tông đồ” được viết khoảng năm 100 SC (Sau Chúa) là cuốn sách về trật tự của Hội Thánh đầu tiên. Trong thời đó có những tiên tri đi lang thang từ thành này sang thành khác. Sách đã quy định rằng, nếu vị tiên tri nào muốn ở lại nơi nào lâu hơn ba ngày mà không có việc làm thì kẻ ấy là tiên tri giả, và nếu tiên tri nào xưng mình ở trong Thánh Linh mà xin tiền hay xin thức ăn thì kẻ ấy là tiên tri giả. Người thợ đáng lãnh tiền công, nhưng đầy tớ của Đấng chịu đóng đinh không thể là một kẻ say mê lạc thú.
  6.  
Ngay từ khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, người Kitô hữu đã được Chúa Cứu Thế kêu mời thi hành sứ mệnh “Vậy Hội Thánh nhân danh Thiên Chúa hết sức kêu mời tất cả các giáo dân, hưởng ứng sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, hãy mau mắn, đại độ và sẵn sàng đáp lại tiếng gọi của Chúa Kitô, Đấng giờ đây đang thiết tha mời gọi họ. Ước gì giới trẻ hiểu rằng lời mời gọi của Người được đặc biệt gởi tới họ và ước gì họ vui mừng và quảng đại đón nhận. Quả thật chính Chúa Giêsu một lần nữa nhờ Thánh Công Đồng này, mời gọi tất cả các giáo dân hãy kết hợp với Người ngày một mật thiết hơn và nhận thức được những gì của Người cũng chính là của chính mình. (Ph 2,5). Họ hãy tham gia vào sứ mạng cứu rỗi của chính Người và một lần nữa Ngài sai họ đi tới các thành và những nơi Người sẽ đến. Như thế giáo dân hãy chứng tỏ mình là cộng tác viên của Chúa Giêsu cộng tác vào cùng một công việc tông đồ của Giáo Hội bằng nhiều hình thức và phương tiện khác nhau. Những cộng tác viên phải luôn thích nghi với những đòi hỏi mới của thời đại và không ngừng ra sức phục vụ Chúa bởi biết rằng khó nhọc của mình không phải là uổng phí trong Người”. (TĐ 33).
 
Đức Kitô muốn thông ban cho các môn đệ lòng can đảm trong việc tông đồ nên khi Ngài nói “Ta sai các con” điều mà thánh Gioakim Khẩu chú giải: “Điều này đủ cho các ngươi được can đảm, điều này làm cho các ngươi được tin tưởng”. Các sứ giả được can đảm vì ý thức rằng mình được Thiên Chúa sai đi, như sau này Phêrô giải thích rõ ràng cho Thượng Hội Đồng ông hành động như thế nhân danh Đức Giêsu Nadaret, “vì dưới gầm trời này không có danh nào khác khiến người ta được cứu rỗi”. Rồi thánh Grêgôriô Cả thêm vào để giải thích câu huấn thị của Chúa: Đừng mang bao bị giầy dép, đừng chào hỏi ai dọc đường. Người rao giảng phải đặt niềm tin vào Chúa tới độ dầu không trang bị cho mình những nhu cầu để sống, vẫn xác tín rằng sẽ không thiếu; thật thế, nếu Ngài bận tâm cho những sự thế tục, Ngài không thể ban phát chung quanh Ngài những sự trên trời. Truyền giáo đòi hỏi một sự hiến thân bao gồm sự từ bỏ, thế nên thánh Phêrô là người đầu tiên thực hành lời dạy của Chúa và đã nói với người hành khất ở Cửa Đẹp Đền Thờ: “Vàng bạc thì tôi không có”. Thánh Ambrôsiô thêm vào “không phải để phô trương sự nghèo khó, nhưng đúng hơn để vâng phục lệnh Chúa, dường như Ngài muốn bảo anh: Thấy tôi là một môn đệ của Đức Kitô mà anh lại xin tiền à? Chúng ta có thể cho anh ta cái gì còn có giá trị hơn vàng bạc nữa: quyền năng hành động nhân danh Chúa. Tôi không có cái mà Chúa Kitô không cho tôi, nhưng tôi có cái mà Ngài cho tôi: “nhân danh Chúa Giêsu thành Nadaret anh hãy dậy mà đi”. Do đó, việc truyền giáo đòi hỏi phải siêu thoát của cải vật chất, cũng như phải luôn luôn mau lẹ sẵn sàng vì công việc cấp bách…
 
“Đừng chào hỏi ai dọc đường” Thánh Ambrôsiô tự hỏi “Sao lại thế? Chúa lại bỏ một việc xã giao thường tình? Nhưng phải để ý Chúa không bảo đừng chào ai nhưng bảo đừng chào ai dọc đường, không thừa đâu!
 
Khi tiên tri Êlia sai tên đầy tớ đi cứu giúp đứa con bà góa bằng cách để cây gậy của vị tiên tri trên đứa bé đã chết, ông cũng ra lệnh đừng chào hỏi ai dọc đường: Ông có ý bảo phải mau mau cứu bé sống lại, đừng để chậm trễ vì những người cùng đi đường với mình. Như thế không phải bỏ qua hết phép lịch sự xã giao, nhưng hạn chế những gì ngăn trở để việc phục vụ được mau lẹ. Khi Thiên Chúa đã bảo, điều gì thế tục phải tạm thời để qua một bên, chào hỏi nhau là tốt, nhưng tốt hơn là thi hành cho mau điều Chúa dạy vì chậm trễ có thể trở nên vô ích…
 
Về phần thính giả, lời Chúa hôm nay dạy rằng nghe lời Thiên Chúa là một trách nhiệm lớn. Người ta sẽ chịu phán xét theo những gì mình đã may mắn biết được. Chúng ta không chấp trách trẻ con điều mà chúng ta kết án người lớn, chúng ta tha thứ cho người man ri những thái độ, hành động mà nếu xảy ra nơi người văn minh thì bị trừng phạt. Trách nhiệm là mặt trái của đặc ân. Chối bỏ lời mời của Thiên Chúa là một tai họa. Ở một phương diện thì mỗi lời hứa của Chúa có thể thành lời buộc tội cho người nào nghe đến. Nếu người ấy tiếp nhận các lời hứa đó thì quả thật đó là sự vinh hiển nhất, nhưng nếu người ấy xén bỏ đi, thì một ngày kia, lời ấy sẽ là chứng cớ nghịch lại cùng người ấy vậy.
 
Bảy mươi hai môn đệ trở về với vẻ mặt sáng rỡ vì những chiến thắng đã dành được trong danh Chúa. Ngài nói với các ông một câu khó hiểu: “Ta thấy Xatan bị tấn công vào Nước của Thiên Chúa xuất hiện”. Nó có thể có nghĩa là Chúa Giêsu biết rằng nhát đòn tử thương đã giáng xuống Xatan và các quyền lực của nó, tuy rằng chiến thắng cuối cùng của Xatan có thể con trì hoãn lâu.
 
Nhưng câu đó cũng có thể là lời cảnh cáo cho tính kiêu căng. Vì do kiêu ngạo Xatan chống nghịch Thiên Chúa, nên đã bị ném ra khỏi trời. Có thể Chúa Giêsu ngụ ý cùng bảy mươi hai môn đệ rằng: “Các ngươi đã thu gặt được nhiều thắng lợi, hãy giữ mình kẻo sinh kiêu ngạo…” Chúa Giêsu luôn luôn cảnh cáo các tôi tớ Ngài về tội kiêu ngạo và quá tự tin. Quả thực họ được Chúa ban cho mọi quyền phép, nhưng vinh hiển lớn nhất của họ là được ghi tên vào sổ trên trời. Có một điều mãi mãi là sự thật, ấy là vinh hiển lớn nhất của con người không phải là những gì mình đã làm được,mà là những gì Chúa đã làm cho mình. Có người cho rằng việc khám phá ra thuốc mê đã giúp con người giảm bớt đau đớn nhiều hơn bất cứ khám phá nào khác trong y khoa. Một hôm có người hỏi James Simpson: “Ông cho điều gì là khám phá lớn nhất của ông?” và mong đợi câu trả lời rằng: “Thuốc mê”, vì chính ông là người đã khám phá ra môn thần dược này. Nhưng Simpson đã trả lời rằng: “Khám phá lớn nhất của tôi là Chúa Giêsu, Chúa cứu chuộc của tôi”. Tính kiêu ngạo đã cản đường lên thiên đàng, nhưng đức khiêm nhường là thông hành để được gặp Chúa.
 
Chúa sửa sai thái độ của các môn đệ khi chỉ cho các ông lý do thật đã vui là niềm hy vọng đạt nước thiên đàng chứ không trong quyền năng làm phép lạ, khi Người giao sứ mạng này cho các ông. Trong dịp khác, Chúa cũng cho một bài học tương tự (Mt 7,22-23). Trong mắt Chúa, thi hành ý Ngài quan trọng hơn là phép lạ.
 
 
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 21


Hôm nayHôm nay : 3818

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 121817

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4921555