20:01 EDT Chủ nhật, 24/06/2018

Trang nhất » Chuyên mục » Suy niệm Lời Chúa

Tìm hiểu Lời Chúa - thứ năm tuần 11 thường niên

Thứ tư - 15/06/2016 08:55
THỨ NĂM SAU CHÚA NHẬT 11 THƯỜNG NIÊN
NĂM CHẴN
Hc 48, 1-14; Mt 6, 7-15
 
BÀI ĐỌC: Hc 48, 1-14
 
1 Bấy giờ, ông Ê-li-a xuất hiện, ông là vị ngôn sứ chẳng khác nào ngọn lửa, lời của ông tựa đuốc cháy bừng bừng. 2 Ông khiến cho nạn đói hoành hành trong dân, và do lòng nhiệt thành, ông làm cho số dân giảm bớt. 3 Ông dùng lời Thiên Chúa mà đóng cửa trời, và ba lần cũng cho lửa đổ xuống. 4 Thưa ông Ê-li-a, ông đã làm bao việc lạ lùng, ông thật là vinh quang hiển hách! Ai có thể tự hào được nên giống như ông?5 Ông dùng lời của Đấng Tối Cao mà làm cho một kẻ chết chỗi dậy, thoát khỏi tay tử thần và cõi âm ty. 6 Ông đã đẩy các vua vào cõi chết, và xô người quyền thế xuống khỏi giường. 7 Tại núi Xi-nai, ông đã nghe lời khiển trách, trên núi Khô-rếp, ông đã nghe án trừng phạt. 8 Ông đã xức dầu tấn phong các vua để họ cầm quyền xét xử, và xức dầu cho các ngôn sứ để họ nối nghiệp ông. 9 Ông đã được cất lên giữa đám lửa xoáy như cơn lốc, trên chiếc xe do ngựa đỏ như lửa kéo đi. 10 Trong những lời khiển trách vào thời sẽ đến, ông đã được nêu danh, để làm nguôi cơn giận của Thiên Chúa trước khi cơn thịnh nộ bùng lên, để đưa tâm hồn cha ông trở lại với con cháu, và tái lập các chi tộc Gia-cóp.
 
11 Phúc cho ai được nhìn thấy ông, và cho kẻ được an nghỉ trong tình yêu Thiên Chúa, vì cả chúng tôi, chắc chắn cũng sẽ được sống. 12 Khi ông Ê-li-a được ẩn trong cơn lốc, thì ông Ê-li-sa được đầy thần khí của người. Suốt đời ông Ê-li-sa, không thủ lãnh nào có thể làm ông lung lạc, cũng chẳng ai khuất phục được ông. 13 Đối với ông, chẳng có gì là quá sức, ngay cả khi ông đã qua đời, thân xác ông vẫn còn giữ năng lực của một ngôn sứ. 14 Lúc sinh thời, ông đã làm nhiều dấu lạ, sau khi chết, ông vẫn còn thực hiện những điềm thiêng.
 
ĐÁP CA: Tv 96
 
Đ. Trước nhan thánh Chúa, người công chính hãy vui mừng. (x c 12a)
 
1 Chúa là Vua hiển trị, hỡi địa cầu, hãy nhảy mừng lên, vui đi nào, ngàn muôn hải đảo!2 Mây u ám bao phủ quanh Người, bệ ngai rồng là công minh chính trực.
 
3 Ngọn lửa hồng mở lối tiên phong, đốt tiêu tan địch thù tứ phía. 4 Ánh chớp của Người soi sáng thế gian, địa cầu trông thấy mà run sợ;
 
5 núi tan chảy như sáp, khi diện kiến Thánh Nhan vị Chúa Tể hoàn cầu. 6 Trời xanh tuyên bố Người là Đấng chính trực, hết mọi dân được thấy vinh quang Người.
 
7 Nhục nhã thay ai thờ ngẫu tượng, huênh hoang vì những vật hư vô này. Chư thần chư thánh, phục bái Chúa đi!
 
TUNG HÔ TIN MỪNG: x Rm 8, 15bc
 
Hall-Hall: Anh em đã nhận được Thần Khí làm cho nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên rằng: “Abba! Cha ơi!” Hall.
 
TIN MỪNG: Mt 6, 7-15
 
7 Một hôm, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: "Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. 8 Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.
 
9 "Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này:"Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển, 10 triều đại Cha mau đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. 11 Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày; 12 xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con; 13 xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. 14 "Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. 15 Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.
 
ĐỨC GIÊSU DẠY CẦU NGUYỆN
 
Đức Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện xem ra nghịch với khát vọng mọi người. Vì hầu hết người ta đến với Chúa chỉ mong được Ngài đáp cứu những nhu cầu họ đang cần, chứ hiếm có ai cầu nguyện mà quan tâm đến việc làm vinh danh Chúa! Thế mà Đức Giêsu lại ưu tiên dạy cầu nguyện: “Xin làm cho Danh Thánh Cha vinh hiển“ (x Mt 6, 9-10: Tin Mừng). Sau đó Ngài mới dạy xin cho nhu cầu của “chúng con” (x Mt 6, 11-13: Tin Mừng). Vì “chúng con” nhờ được tái sinh trong Bí tích Thánh Tẩy, đã trở nên Hiền Thê của Đức Giêsu Kitô (x 2 Cr 11, 2: Bài đọc năm lẻ). Mà trong đời sống vợ chồng, mỗi người chỉ có thể bày tỏ tình yêu của mình qua ý hướng: nói gì, làm gì, ưu tiên dành cho người bạn trăm năm được vinh dự nhất. Muốn thế phải thực hành Lời Chúa, chứ không thể bắt chước bà Eva nghe quỷ xúi giục làm theo ý nó, rồi bà lại xúi Adam chồng mình cũng làm theo. Thế là họ cùng nhau gạt bỏ Lệnh Chúa truyền, hậu quả là làm cho cả dòng giống nhào xuống hố tử thần (x St 3). Do đó thánh Phaolô nói: “Tôi sợ rằng như xưa con rắn đã dùng mưu chước mà lừa dối Eva thế nào, thì nay chính lòng anh em cũng dần dần đâm ra hư hỏng, mất sự đơn sơ đối với Đức Kitô như vậy” (2Cr 11, 3). Bởi vì “người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi Lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4, 4b).
 
Để hiểu nội dung lời cầu nguyện mà Đức Giêsu dạy trong Kinh Lạy Cha, ta hãy tìm hiểu từng điều Ngài dạy:
 
A. TRƯỚC NHẤT PHẢI ƯU TIÊN CẦU NGUYỆN: XIN CHO DANH CHÚA HIỂN VINH.
 
 “Lạy”: Động từ này được đặt ở đầu lời cầu nguyện, để khẳng định người ta chỉ thờ phượng một Thiên Chúa mà thôi, vì Ngài là Cha, Đấng thấu suốt mọi sự.
 
· “Cha”: Là tiếng con trẻ bắt đầu trong đời bập bẹ với người nuôi dưỡng. Thời gian này, nó cứ bám chặt lấy người chăm sóc nó. Thánh Phaolô xác tín với các tín hữu: “Anh em đã nhận được Thần Khí làm cho nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên rằng “Abba! Cha ơi!” (Rm 8, 15bc: Tung Hô Tin Mừng). Nghĩa là chính Thánh Thần làm cho ta bám chặt vào Thiên Chúa là Cha như thể trẻ thơ không thể rời xa cha mẹ!
 
· “Chúng con”: Người Do Thái tự hào Thiên Chúa chỉ nhận dân tộc họ là con, nên chỉ có dân này được phúc gọi Thiên Chúa là Cha, còn dân ngoại được Chúa coi như loài chó mà thôi (x Mt 15, 26). Trong kinh Lạy Cha, Đức Giêsu mở rộng liên hệ Ngài với loài người, cũng như xác định rõ và đầy đủ hơn: Thiên Chúa là Cha thật của mọi loại người trong Hội Thánh. Bao lâu cả loài người trở thành người Công Giáo chân chính, thì bấy giờ ai cũng nhìn nhận nhau là anh em con một Cha trên trời, một Thầy dạy duy nhất là Đức Giêsu Kitô (x Mt 23, 8-10). Lúc ấy chắc chắn có hòa bình thực sự trên trái đất, thế giới này là Thiên Đàng.
 
·  “Đấng ngự trên trời”: Là Thiên Chúa toàn năng, cao cả trổi vượt trên triều đình thần thánh, Ngài là Chúa muôn loài, Ngài thấu suốt lòng dạ mọi người.
 
· “Danh thánh Cha”: Thánh là tách biệt, khác lối sống phàm nhân không thuộc về Chúa, như Đức Giêsu thưa với Chúa Cha về các môn đệ: “Con đã ban cho chúng Lời của Cha và thế gian đã ghét chúng, vì chúng không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian” (Ga 17, 14). Đối với Thiên Chúa, Danh Ngài là Thánh, nghĩa là Danh Cha trên trời khác và hơn hết muôn loài hữu hình và vô hình, Danh Chúa diễn tả bản tính của Ngài:
 
- Tự Hữu: không bởi đâu sinh ra.

-  Hằng Có: trường tồn, không khởi sự, không tận cùng.
 
-  Toàn Năng: biến dữ ra lành, biến tội ra ơn, chết ra sống.
 
-  Thấu suốt mọi sự: ngay cả các điều thâm sâu trong lòng người, dù chưa tỏ lộ.
 
-  Khôn ngoan: mọi đường lối của Chúa đều ngay thẳng, hoàn hảo hết ý.
 
-  Chân lý: ngoài Thiên Chúa không có sự thật.
 
-  Thánh thiện: không vết tỳ ố.
 
-  Sự sống: mọi vật có sự sống đều do Thiên Chúa ban cho.
 
- Tình yêu: Ngài là Tình Yêu, vô vị lợi, luôn ban điều thiện hảo mà không nhận lại điều gì
 
· “Hiển vinh”: Hiển là lộ ra khi loài người nhận biết phạm trù Danh Thánh Cha như trên. Càng nhiều người nhận biết Danh Thánh Cha, thì Cha càng lộ ra vinh hiển. Nhưng vì Chúa yêu thương loài người, Ngài muốn lệ thuộc vào ta khi ta trở nên Tông Đồ của Đức Kitô (x Ga. 15, 8). Thánh Irênê nói: “Vinh quang Thiên Chúa là cộng lại những người được Chúa Giêsu cứu độ.”
 
· “Triều đại Cha mau đến”: Một cộng đoàn dân tộc đi lên hay đi xuống, tùy thuộc vào triều đại (hay chính thể) của dân tộc ấy. Ví dụ dân tộc Việt Nam, dưới triều đại vua Quang Trung khác triều đại Hồ Chí Minh: người dân được vươn lên tự do hạnh phúc hay sống cảnh sợ hãi, mất hết quyền mà không ai dám mở miệng. Do đó dân tộc Việt Nam có trải nghiệm về sự khác biệt giữa các triều đại. Vậy “triều đại Cha mau đến”, để khẳng định rằng: Hội Thánh Công Giáo được sinh ra từ cạnh sườn Đức Giêsu bị đâm trên thập giá, đó chính là Nước Thiên Chúa khai diễn cho con người được cứu độ. Bởi đó Chúa muốn mọi dân mọi nước mau trở thành dân Ngài trong Hội Thánh Công Giáo, là đoàn chiên của Mục Tử Giêsu nhân lành, chỉ có Mục Tử Giêsu mới cho đoàn chiên sự sống dồi dào như Thiên Chúa và được gìn giữ chở che, không sự dữ nào cướp khỏi tay quyền năng và yêu thương của Thiên Chúa được (x Ga 10, 27-30).
 
· “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”: Hy vọng vào Nước Trời mai sau được hạnh phúc như thế nào, thì hãy thể hiện niềm tin ấy trong cuộc sống hôm nay. Cụ thể, Thánh Lễ là thực tại phúc lộc trên trời được thể hiện trên trái đất. Do đó ta đi dự Lễ là được tiên thường dự tiệc Nước Thiên Chúa. Nói cách khác, Nước Trời khởi đi từ cuộc sống trần thế mỗi khi Hội Thánh dâng Lễ, và viên mãn trong ngày cánh chung.
 
B. PHẦN THỨ HAI ĐỨC GIÊSU DẠY: XIN CHO NHU CẦU CỦA CON NGƯỜI.
 
· “Lương thực hằng ngày”: Chúa muốn mọi người được sống đời đời, nhờ Chúa ban năm lương thực:
 
1.    Sống nhờ Đức Tin (x Rm. 1, 17).
 
2.    Sống nhờ thi hành Lời Chúa (x Mt. 4, 4; Ga 4, 34).
 
3.    Sống nhờ Thánh Thể (x Ga. 6, 35).
 
4.    Sống nhờ Đức Mến thể hiện bằng tấm lòng sám hối tội mình và được kết hợp với Chúa Giêsu (x Lc 23, 43).
 
5.    Sống nhờ của cải vật chất không thừa, không thiếu (x Cn. 30, 8-9).
 
Năm nguồn sống này đã được diễn tả qua năm chiếc bánh Đức Giêsu dùng để nuôi trên năm ngàn người ăn no mà vẫn còn dư (x Mt 14, 13-21).
 
· “Xin tha tội chúng con, như con tha cho kẻ có lỗi với con”: Ta xúc phạm đến Chúa là tội nặng nề hơn đồng loại xúc phạm đến ta. Đồng loại xúc phạm đến ta chỉ là lỗi. Ta có tha thứ lỗi cho đồng loại cũng chẳng đáng giá gì so với Chúa tha tội cho ta. Chân lý này đã diễn tả qua dụ ngôn người tôi tớ mắc nợ vua mười ngàn nén vàng, tương đương với 60 triệu ngày công, vì tiền công nhật được quy là một quan (x Mt 20, 2). Nếu làm tối đa một năm 300 ngày, thì phải mất 200 ngàn năm ngày công, đã được vua tha bổng. Khi ra về anh gặp bạn chỉ nợ có 100 quan, tương đương với 100 ngày công (hơn ba tháng), anh bạn này không xin tha mà chỉ xin khất, thế mà kẻ được vua tha nợ lại tóm lấy bạn tống vào ngục! Vua nghe được cho gọi tên nợ lại và tống giam, vì hắn đã được vua tha cho một số nợ khổng lồ, trong khi đó hắn lại không cho bạn khất một số nợ chẳng đáng là bao! (x Mt 18, 23-35 - theo Chú Giải của TOB). Đúng là “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương” (Tv 103/102, 8). Vì lý do này mà trước khi hối nhân vào tòa Giải Tội và trước lúc rước Lễ, Hội Thánh đòi buộc phải đọc kinh Lạy Cha.
 
· “Đừng để chúng con sa chước cám dỗ”: Đừng để chúng con là người Công Giáo được đón nhận Lời Chúa và Thánh Thể mà lại ra tồi tệ hơn. Bởi thế trong Thánh Lễ, trước khi chủ tế rước Chúa thì, phải cúi mình đọc thầm: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, bởi thánh ý Chúa Cha và nhờ sự hợp tác của Chúa Thánh Thần, Chúa đã chết để ban cho thế gian được sống, xin dùng Mình và Máu Thánh Chúa đây cứu con khỏi mọi tội lỗi và mọi sự dữ, xin cho con hằng tuân giữ Giới Răn Chúa và đừng để con lìa xa Chúa bao giờ.” Kìa ma qủy đã dùng Lời Chúa mà cám dỗ Đức Giêsu phạm tội nghịch với ý Chúa Cha. Nhưng Đức Giêsu đã được Thánh Thần hướng dẫn dùng Lời Chúa đánh gục Satan trong cả ba lần chúng cám dỗ Ngài, thì ta cũng xin Chúa ban Thánh Thần hướng dẫn ta biết sống Lời Chúa, như Lời Ngài dạy: “Chúa sẽ ban Thánh Thần cho những ai kêu xin Người” (x Mt. 4, 1–11; Lc 11, 13). Vì qua Bí tích Thánh Tẩy chúng ta đã được tái sinh để thuộc về dòng giống Thiên Chúa, không còn là dòng giống của Adam, Eva, một dòng giống bị Satan hướng dẫn chống lại lệnh Chúa, khác hẳn Đức Giêsu tấn công Satan bằng Lời Chúa (x St 3 so với Mt 4).
 
·  “Xin cứu chúng con khỏi sự dữ”: Vì Thiên Chúa là Cha toàn năng, giàu lòng thương xót, chỉ có Ngài biến dữ ra lành, biến tội ra ơn, biến chết ra sống cho ai biết sám hối tội mình xin Chúa xót thương và xin được theo Ngài (x Ep 2, 4; Lc 23, 39-43).
 
Để việc cầu nguyện sinh hiệu quả, ta cần lưu ý về cách thức cầu nguyện, Hội Thánh dạy ta: “Việc cầu nguyện phải đi đôi với việc đọc Thánh Kinh, để có sự đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì chúng ta ngỏ lời với Chúa khi cầu nguyện và chúng ta nghe Ngài lúc chúng ta đọc Thánh Kinh” (Hiến Chế Mạc Khải số 25). Nhưng phải đọc Thánh Kinh trong Hội Thánh (x Hiến Chế Phụng Vụ số 7), phải hiểu cách cụ thể là chu toàn giờ kinh Phụng Vụ đặc biệt là hiệp dâng Thánh Lễ. Bởi vì khi ta cầu nguyện trong Phụng Vụ là được cùng với Hội Thánh dùng Lời Chúa chuyện vãn với Ngài để được “Thánh Thần lựa ý Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta” (Rm 8, 26)
 
Thánh Phaolô muốn nhấn mạnh cho chúng ta thêm lòng tin vào Lời Chúa khi ta đọc Thánh Kinh: “Anh em chịu lấy Lời Thiên Chúa nghe tự chúng tôi, anh em đã đón nhận lấy không phải như lời của những người phàm - mà đích thực là thế - nhưng là Lời Thiên Chúa và Lời ấy đang thi thố quyền năng nơi anh em là những kẻ tin” (1Tx 2, 13). Thánh Tông Đồ xác tín như thế vì ngài dựa vào lời ngôn sứ Isaia: “Lời Chúa thấm vào lòng người phát sinh sự sống, khách quan và hiệu quả hơn nước mưa thấm vào lòng đất nảy sinh cây cối và côn trùng” (x Is 55, 10-11). Thậm chí tảng đá không thấm nước, nhưng nếu nước cứ đổ xuống dầm dìa nhiều ngày, thì sự sống tối thiểu cũng xuất hiện, đó là rêu xanh! Thế thì Lời Chúa nếu thấm vào lòng người, dù chai đá đến đâu, chắc chắn cũng được biến đổi và sinh sự sống mới.
 
Sau khi chúng ta đã tìm hiểu kinh Lạy Cha, cho ta xác tín: Cầu nguyện như Đức Giêsu dạy là cộng tác với Ngài để cùng thực hiện chương trình cứu độ loài người Chúa Cha trao phó. Chân Lý này dựa vào Hc 48, 1-14 (Bài đọc năm chẵn), minh chứng ngôn sứ Êlya thể hiện ý Chúa, báo trước Đức Giêsu thực hiện chương trình cứu độ loài người:
 
- Ông là vị ngôn sứ chẳng khác nào ngọn lửa, lời của ông tựa đuốc cháy bừng bừng (Hc 48, 1).
 
+ Đức Giêsu nói: “Tôi đã ném lửa vào trần gian và nào tôi hằng mong ước, nếu nó đã được nhen lên” (Lc 12, 49)
 
- Ông Êlya dùng Lời của Đấng Tối Cao mà làm cho một người chết sống lại, thoát khỏi tay tử thần và cõi âm ty (Hc 48, 5).
 
+ Đức Giêsu làm cho ba người chết sống lại: con gái ông Giairô (Mc 5, 35t); con trai bà góa thành Naim (Lc 7, 11t); Lazaro, em Matta và Maria (Ga 11).
 
- Ông Êlya đã đẩy các vua vào cõi chết và xô người quyền thế xuống khỏi giường (Hc 48, 6).
 
+ Đức Maria ca tụng Thiên Chúa lúc sai Con Ngài vào đời: “Chúa hạ kẻ quyền năng khỏi ngôi báu, và suy tôn những người khiêm nhường” (Lc 1, 52).
 
- Tại núi Sinai, ông đã nghe lời khiển trách. Tại núi Khôrếp, ông Êlya đã nghe án trừng phạt (Hc 48, 7).
 
+ Tại núi Sọ, Đức Giêsu nghe mọi người nguyền rủa (Mt 27, 39t).
 
- Ông Êlya đã xức dầu tấn phong cho các vua chúa để họ cầm quyền xét xử (Hc 48, 8a).
 
+ Đức Giêsu trao quyền lãnh đạo Hội Thánh cho ông Phêrô (Mt 16, 18; Ga 21, 15t).
 
- Ông Êlya xức dầu cho các ngôn sứ để họ tiếp nối sứ mệnh của ông (Hc 48, 8b).
 
+ Đức Giêsu truyền cho các Tông Đồ nối tiếp sứ mệnh của Ngài là đi tập họp môn đệ cho Ngài bằng cách ban Thánh Tẩy và dạy những điều Đức Giêsu đã truyền (Mt 28, 19-20).
 
- Ông Êlya được rước lên Trời giữa đám lửa cháy như cơn lốc (Hc 48, 9).
 
+ Đức Giêsu được rước lên Trời có đám mây quyện lấy Ngài (Cv 1, 9-12).
 
- Ông Êlya làm nguôi cơn giận của Thiên Chúa trước khi cơn thịnh nộ bừng lên, để đưa tâm hồn cha ông trở lại với con cháu, và tái lập các chi họ Giacob (Hc 48, 10).
 
+ Đức Giêsu khi bị treo trên thập giá, Ngài đã cầu nguyện cho kẻ hại Ngài, làm nguôi cơn giận của Cha, hầu lôi kéo mọi người lên cùng Cha (Lc 23, 34; Ga 12, 32).
 
- Phúc cho ai được nhìn thấy ông Êlya và cho kẻ được an nghỉ trong tình yêu Thiên Chúa (Hc 48, 11).
 
+ Ông Simeon và bà Anna được diễm phúc nhận ra Hài Nhi Giêsu là Đấng Cứu Thế, ông Simeon bồng Hài Nhi và ước mong được về với Chúa trong bình an (Lc 2, 25-40).
 
- Sau khi ông Êlya được rước lên Trời, thì ông Êlysa được đầy Thần Khí của thầy (Hc 48, 12a).
 
+ Đức Giêsu khi về Trời, Ngài hứa sẽ cho những ai tin theo Ngài làm được những việc như Ngài và còn hơn Ngài (Ga 14, 12).
 
- Ông Êlysa môn đệ của ngôn sứ Êlya được lòng tin mạnh mẽ, không thủ lãnh nào ở thế gian có thể lung lạc được ông, cũng không ai khuất phục được ông (Hc 48, 12b).
 
+ Đức Giêsu cầu nguyện riêng cho ông Phêrô, để ông khỏi mất Đức Tin, vì ông có nhiệm vụ củng cố Đức Tin anh em (Lc 22, 31-32).
 
- Chẳng có điều gì quá sức ông Êlysa, ngay cả khi ông đã qua đời, thân xác ông vẫn còn giữ năng lực của một ngôn sứ (Hc 48, 13).
 
+ Các môn đệ Đức Giêsu có sức mạnh đến nỗi không có gì các ông không làm được. Cụ thể dù bị cấm cách bắt bớ, các ông càng hăng say (Cv 4).
 
Vậy đời sống ngôn sứ Êlya tiên báo về đời sống Đức Giêsu trên, cũng tiên báo cho hết thảy những ai biết cầu nguyện với Chúa trong kinh Lạy Cha, để được cộng tác với Chúa Giêsu làm hoàn tất chương trình cứu độ loài người, đúng với lời kinh ta đọc: “Lạy Chúa, những công trình tay Chúa thực hiện, quả là chân thật và công minh” (Tv 111/110, 7a: ĐC năm lẻ), để quy tụ muôn dân đến “trước nhan thánh Chúa, người công chính hãy vui mừng”(Tv 97/96, 12a: ĐC năm chẵn).
 
THUỘC LÒNG
 
Lương thực cần dùng nuôi sống con người nhờ 5 tấm bánh:
 
1.    Sống nhờ Đức Tin (x Rm. 1, 17).
 
2.    Sống nhờ nghe và thi hành Lời Chúa (x Mt. 4, 4; Ga 4, 34).
 
3.    Sống nhờ Thánh Thể (x Ga. 6, 35).
 
4.    Sống nhờ sám hối tội mình và xin theo Chúa (x Lc 23, 43).
 
5.    Sống nhờ của cải vật chất không thừa, không thiếu (x Cn. 30, 8-9).
 
http://phaolomoi. net
Lm GIUSE ĐINH QUANG THỊNH
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: Mt 6:7-15, dqt, tn11,

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 31

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 30


Hôm nayHôm nay : 7610

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 122113

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2108131