Còn đó của ngày xưa

Tóm lại, ở Nhật lười không được, nhàn không được, bệnh không được, và chết sớm…cũng không được!
 
CÒN ĐÓ CỦA NGÀY XƯA…
 
Tóm lại, ở Nhật lười không được, nhàn không được, bệnh không được, và chết sớm…cũng không được!
 
tặng Minh Trân
Đỗ Hồng Ngọc
Đặc San Liễu Quán, Huế.
Vu Lan PL 2563 (2019)
 
Trong lúc cả “thế giới phẳng” đang đối đầu với dịch béo phì và những hệ quả của nó thì ở Nhật hình như không có hiện tượng béo phì, ít ra là ở vùng Hyogo, Kobe. Trong sân trường Đại học Sư phạm Hyogo, nơi tôi có dịp đến thăm, đầy tiếng cười đùa rộn rã của các sinh viên nam nữ. Họ rất dễ thương. Không quen biết gì cũng cúi rạp chào mình rất lễ độ. Khi ra dấu xin chụp ảnh, họ cười rất tươi, sửa lại cái dáng cho… nghiêm chỉnh một chút! Thỉnh thoảng tôi cũng “chộp” lén một vài tấm kỷ niệm những lúc họ đang ăn ngon lành ngoài nắng sân trường hoặc ríu rít đẩy nhau lên xe bus tay xách nách mang khi trở lại trường sau ngày nghỉ cuối tuần.
 
Họ hồn nhiên. Họ tươi tắn. Nói chung rất dễ thương. Và đẹp. Cái đẹp của phương Đông. Kín đáo, thùy mị, dịu dàng, và… thon thả.
 
Lạ, không thấy có hiện tượng béo phì ở đây, trong sân trường cũng như ngoài đường phố, siêu thị, sân ga. Có lẽ có một chính sánh y tế công cộng nào đó âm thầm quản lý toàn bộ chăng? May mắn đều do… sắp đặt mà! Đúng vậy. Cái cách quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm của họ khó mà có thể béo phì, khó mà có thể ngộ độc thức ăn! Món ăn nào cũng kiểm tra kỹ, bao bì, đóng gói, cân đong đo đếm cẩn thận, từ củ gừng, củ khoai, đến vài cọng hành, lá hẹ! Món ăn nào cũng có hạn, lúc nào cũng phải mới toanh. Một số sinh viên nước ngoài thường chỉ dẫn cho nhau… cách mua thức ăn vào những ngày sắp hết hạn, giá rẻ đặc biệt. Đem về bỏ tủ lạnh có thể… tự gia hạn khi cần! Bởi vì thức ăn ở Nhật quá đắt. Đắt gấp cả chục lần ở ta. Lại nhạt nhẽo. Thiếu gia vị. Hình như họ không cần ăn… ngon, họ chỉ cần ăn tốt. Chất lượng thì tuyệt vời: nấm, đậu hủ, rong biển, cá… Và nhất là cá sống, trời ạ! Ăn phát sợ! Sợ là vì mình không quen ăn mà cũng vì mình vốn thường bị ăn cá ươn, cá ướp hàn the, ướp formol… nên cũng giống như chim bị ná sợ cây cong. Nấm cũng vậy. Lần nào ăn nấm tôi cũng rờn rợn nhớ những vụ ngộ độc nấm xứ mình. Tôi có đến thăm Sở Y tế Hyogo. Ở đó người ta trình bày cho tôi xem cách quản lý chất lượng thực phẩm ra sao. Và tôi hiểu tại sao người Nhật khó mà có thể béo phì được. Ở đâu cũng thấy họ thon thả. Họ mặc kimono rất đẹp dù có vẻ hơi đơ cứng, lắc lư. Nay họ “nhập khẩu” áo dài của ta vào nữa thì lại càng thon thả, càng bay bỗng! Không bị béo phì, không thừa mỡ thừa đạm thừa bột thì người Nhật ít bị bệnh tim mạch, tiểu đường, huyết áp các thứ như ở một số quốc gia khác.
 
Nhưng chưa hết! Kiểm sóat thực phẩm, cân đong đo đếm calori thu nhập hằng ngày của con người chỉ là một phần của chuyện chống béo phì. Cái hệ thống giao thông công cộng của họ mới là cái đóng góp đáng kể hơn! Ở Âu Mỹ, ở Úc... hệ thống tàu điện đơn giản và tiện lợi khiến người ta làm biếng, không phải đi lại, vận động nhiều . Ở đây thì không! Người ta chạy hộc tốc, chạy có cờ. Rầm rập. Rầm rập. Ngược xuôi, phải trái, lộn qua lộn về khắp nơi. Hình như khách lạ ai cũng năm lần bảy lượt nhầm ga, nhầm giờ. Các nhà ga thì hành lang dài hun hút, thang cuộn rất ít, hoặc chỉ có một chiều lên, còn dành cho lội bộ! Lội rả giò! Rõ ràng là có sự cố tình… sắp đặt để mọi người phải cuốc bộ năm ba cây số, phải leo cầu thang hằng trăm bậc mỗi ngày.
 
Tóm lại, người ta âm thầm buộc mọi người phải… vận động! Béo phì sao nổi? Ăn uống được kiểm sóat, vận động thể lực được kiểm soát. Kết quả là người Nhật muốn lười, muốn nhàn, muốn béo phì… đều không được. Họ chỉ còn có mỗi một việc phải làm: đó là cật lực làm việc, và… sống lâu. Sống lâu vì không… chết được. Bệnh đâu mà chết? Và rồi chỉ còn những người… già, ngày càng già, không biết để làm gì! Ở trường đại học Konan, bác sĩ Matsuura chỉ cho tôi xem phòng nghiên cứu đặc biệt những động tác của từng cơ bắp của con người. Nhờ đó tìm ra những khuyết điểm trong sự vận hành của từng cơ bắp để có thể phục hồi hoặc chế tác các dụng cụ hỗ trợ phù hợp cho người cao tuổi. Tóm lại, ở Nhật lười không được, nhàn không được, bệnh không được, và chết sớm…cũng không được!
 
Một xứ sở thần tiên? Một nơi không còn sinh lão bệnh tử? Không phải! Giáo sư Katsuno, chuyên gia Giáo dục sức khỏe nói với tôi, đây là một vấn đề lớn! Quả vậy, chừng mươi năm nay, tỷ lệ tự tử ở người Nhật ngày càng gia tăng, nhiều nơi ở Nhật ngày nay đã có… “thần” Mc Donald xuất hiện, với lọai MegaMac mà trẻ con người lớn đều ưa! Các nghiên cứu cho thấy gène “béo phì” ở người Nhật thấp hơn người Mỹ gấp 10 lần, nhưng nay tỷ lệ trẻ con Nhật béo phì ngày càng gia tăng. Một nghiên cứu cho thấy trong nhiều thập kỷ qua, tuổi thọ của người dân Okinawa đứng vào hàng đầu thế giới, nhưng từ khi fast food kiểu Mỹ tràn vào thì tuổi thọ của dân Okinawa đã tụt xuống nhanh!
 
Buổi sáng, giáo sư Katsuno, hiệu phó trường Đại học sư phạm Hyogo đưa chúng tôi đến thăm Đại học phụ nữ Konan ở Kobe. Trường nằm trên lưng chừng một ngọn núi cao. Lồng lộng biển khơi trước mặt! Giữa sân trường đại học nữ là một… người đàn ông khỏa thân, ngồi suy tưởng! Đó là bức tượng nổi tiếng Le Penseur của Rodin! Ông đang ngẩm ngợi điều chi? Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật? Vợ Nhật ư, tìm đâu ra bây giờ? Bây giờ các cô gái Nhật đâu có chịu lập gia đình, đâu có muốn sanh con đẻ cái. Tiếp chúng tôi là Bác sĩ Matsuura, một chuyên gia về sức khỏe cộng đồng, giáo sư của trường. Matsuura là một bác sĩ… đẹp trai, khoảng ngoài 60, nhiệt tình và cởi mở. Đúng chất người làm cộng đồng! Khi mới ra trường được 10 năm, ông tình nguyện về một hòn đảo xa để thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe cho người dân- đa số là người già- kết hợp giữa y tế và phát triển cộng đồng.
 
Chương trình thành công. Người già không ai… tự tử, người trẻ chịu lập gia đình! Hiện nay chương trình này đã trở thành một mô hình tốt. Buổi trao đổi giữa chúng tôi càng trở nên tương đắc, hào hứng. Bởi riêng tôi cũng đã có khá nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực này từ năm 1984, khi thực hiện Chương trình săn sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em ở phường 13 Quận 6 và từ năm 1986, trong Chương trình Hiệp Phước, tại một xã cù lao nghèo thuộc huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh. Khác chăng là ở mục tiêu. Ta thì hạn chế sinh đẻ còn Nhật thì khuyến khích sinh đẻ. Ta thì tập trung lo cho trẻ con suy dinh dưỡng, sốt rét, bệnh nhiễm trùng còn Nhật thì lo cho người già, tàn phế, tật nguyền, chán sống… Nhưng nói chung phương pháp vẫn là Tiếp cận dựa vào cộng đồng (community-based approach), dựa trên những nguyên tắc như tham gia cộng đồng (community involvement), phối hợp liên ngành (intersectoral cooperation) và kỹ thuật học thích hợp (appropriate technology). Chủ khách đã trở thành tri âm tri kỷ tự lúc nào! Bác sĩ Matsuura mời chúng tôi tham quan các khoa phòng của trường, đặc biệt nơi nghiên cứu chi tiết các động tác của cơ thể con người để hỗ trợ người già khiếm khuyết. Rồi ông hào hứng mời chúng tôi về thăm nhà riêng!

 
 
Nhà bác sĩ Matsuura ở trên lưng núi, xuyên qua những con đường đầy ắp hoa đào quanh co khúc khuỷu. Một ngôi nhà tuyệt đẹp. Minh Châu, cô sinh viên cao học người Việt phiên dịch cho chúng tôi, từng sống ở Nhật nhiều năm, đã phải kêu lên: Nhà giàu lắm bác ơi! Đó có lẽ là chỗ khác nhau rõ rệt nhất giữa bác sĩ cộng đồng ở Nhật và ở ta! Nhà chỉ còn hai ông bà. Hai người con lớn đều đã đi làm xa. Tôi đùa, thế thì ông sẽ đựơc sự chăm sóc và quản lý chặt chẽ của bà! Ông cười đồng tình! Bà cười bẽn lẽn. Rồi tôi nói thêm: Chỉ có cách là xúi mấy đứa nhỏ lập gia đình để có cháu cho bà chăm sóc. Lúc đó may ra ông mới được thoát! Cả hai ông bà đều kêu lên nhưng tụi nó có chịu lập gia đình đâu! Đột nhiên bà hỏi chồng: Có mời khách uống trà không? Rồi thân mật đẩy chiếc cửa ngay bên vách phải mà tự nảy giờ tôi chẳng ngờ có một phòng trà ở đó.
 
Nhật mới có “trà đạo” thì phải. Một nếp sống tâm linh của cả một dân tộc. Trà đạo không phải là đạo… trà! Không dành cho những người ghiền trà. Trà đạo càng không phải là một cách uống trà, một nghi thức uống trà, kiểu cách, xa hoa nào đó!
 
Một căn phòng vuông vắn và trống huếch, được trải những tấm tatami tinh tươm. Làn gân chiếu nhấp nhô như những đợt sóng ngầm. Có những đường viền đậm. Một góc lõm tokonoma sâu thăm thẳm. Một bức thư họa kakejiku … ngoằn ngoèo huyền bí. Lò lửa ngun ngút ở giữa phòng. Đốt bằng thứ than cội anh đào. Chiếc gáo. Hộp trà. Cối gỗ… Mấy cái chén tống bậm trợn như giả vờ thô kệch mà ngạo nghễ, bay bỗng những hoa văn. Tự dưng thấy lòng hẫng nhẹ. Bụi bặm đường xa gạt bỏ hết bên ngoài. Một không gian khác. Một thời gian khác. Lòng rỗng không. Phòng rỗng không.
 
Trà xanh Nhật lạ lùng. Cái màu xanh như của cốm làng Vòng. Xanh lá mạ. Xanh nếp con gái. Đòng đòng… Màu xanh không mất đi dù đựơc phơi nắng, giã nhuyễn bao lần. Có những nguyên tắc chung nào đó nhưng mỗi “trà nhân” đều có cách pha riêng của mình, phóng khoáng, tự do và đầy ngẫu hứng. Nếu không vậy, chắc họ đã chế ra các cỗ máy…cho “trà đạo” hàng lọat rồi! Ở đây… là con người. Chính con người. Là bóng dáng người phụ nữ Nhật. Rón rén mà nghiêm trang. Thanh thoát mà miên mật. Chính xác. Thuần thục. Mỗi động tác đều mang một ý nghĩa nào đó. Một hồn Nhật lâng lâng của những kawabata, akutagawa… xa lắc xa lơ.
 
Khi nâng chén ngang mày, nghe thoáng mùi hương trà xanh tỏa ngát. Nếm. Không chát đắng. Tan loãng. Nghe ngóng. Ngập ngừng. Bàn tay nâng niu, bàn tay che chở. Bàn tay nào của Đức Phật mà Tôn Ngộ Không cân đẩu vân ngàn lần không thể vượt qua? Chậm rải, từ tốn, cẩn trọng. Để nghe cho hết từng tác động thân hành. Nghi thức chỉ là tướng. Ly tướng thì thấy. Thấy gì? Thấp thoáng bóng Trương Chi dưới đáy ngọc hay Duy Ma Cật giữa trùng vây?
 
Hôm đi Nara, thành phố có những ngôi chùa cổ nổi tiếng, nhưng đọng lại trong tôi chính là vườn nai. Vườn mênh mông mà nai cũng mênh mông! Tự dưng tôi nghe gần gũi lạ. Như đang ở nơi Đức Phật thường cùng các đệ tử dạo chơi, đàm đạo, và… uống trà! Những con nai bây giờ cũng hiền lành như hồi đó. Lang thang trong khu vườn xanh mướt hoặc ngẩn ngơ bên bờ suối, rừng cây, hồ nước…
 
Chúng thân thiết sẻ chia những mẩu bánh cám cùng du khách, lửng thửng bước theo họ. Dịu dàng, thong dong và tĩnh lặng. Và ơ kìa, một trà thất trên sườn đồi giữa vườn nai. Trà thất chênh vênh, bấp bênh, đơn sơ mấy cọc rào tre, chơ vơ vài bức phướng dưới ngàn hoa lá đủ sắc màu. Mùa Đông như chưa qua mà mùa Xuân chưa đến hết, vẫn còn ngập ngừng đâu đó. Gần cửa trà thất là một tảng đá lớn tạc thành cái chén đường kính cả thước. Nuớc chảy từ một máng tre, tuồn tuột, leo lẻo. Một cái gáo tre vắt ngang, mong manh. Chén trà của Trời đất mà mỗi trà thất đều phải có như một biểu tượng. Đúng là một trà thất của ngày xưa sót lại. Trà thất lặng lẽ mà ấm cúng. Khiêm cung. Cả cái cửa vào cũng khiến ta phải gập mình xuống để nhẹ nhàng lướt qua. Trong nhà ơ hay đông đúc mà im ắng lạ! Thì ra, họ đang thuởng thức món… cháo trà! Trà đạo ở Nhật không chỉ uống mà còn… ăn. Cháo trà. Cơm trà. Và, có thể lắm, nhai trà, xỉa trà nữa không chừng! Cái ăn, cái uống… chẳng là đạo ư?
 
Bỗng dưng tôi nhớ đến trà của mình! Thứ trà vua mà các cung nữ phải bơi thuyền lắng lấy những hạt sương còn đọng trên cánh lá sen mỗi sáng tinh mơ, đến ly trà đá mát rượi đất phương Nam, rồi chè vối của cây đa bến nước, con đò, và… cô hàng chè yếm thắm. Lại nhớ Lâm Đồng với những đồi trà tít tắp xanh rợn chân trời và những cô gái nhấp nhô gùi trên sóng, những “cô nàng về để suối tương tư” thuở nào. Tôi lại nhớ thừ trà nõn, trà búp, trà con nít, trà móc câu Đà Lạt nhọn hoắc, trắng xóa. Uống thấy thương! Nó có cái vị đậm đà. Càng uống càng ngây ngất. Uống trà, với tôi, là uống với ai, uống ở đâu, uống lúc nào, và uống cách nào. Uống trà mà không biết mình đang uống trà thì thật là đáng tiếc cho trà vậy!
 
Tôi nhớ mãi buổi đến thăm nhà bác sĩ Matsuura, thưởng thức thứ trà đạo chính thống của Nhật do bà Matsuura, một giáo sư trà đạo tự tay pha chế dành cho những người bạn phương xa của chồng. Hóa ra vẫn còn đó những người phụ nữ Nhật của ngày xưa./.
 
(ĐHN)
 
học làm người